Thông tin chuyên ngành Vật liệu xây dựng Việt Nam

Xi măng

Những vấn đề của ngành xi măng hậu Covid-19

(19/05/2020 8:53:57 AM) Trong quý I/2020 và đến nay, sản lượng xi măng sản xuất tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ năm 2019 và hoạt động sản xuất tại các nhà máy được duy trì bình thường, kể cả trong thời gian Việt Nam áp dụng biện pháp cách ly toàn xã hội. 

Yếu tố đầu vào cho sản xuất đang có sự thuận lợi nhất định khi các Bộ đã và đang đề xuất thực hiện giảm một số chi phí như than, điện hay thuế khai thác tài nguyên trong năm nay đễ hỗ trợ kinh tế Việt Nam sau đại dịch Covid-19.

1. Sản xuất xi măng không bị ảnh hưởng nhiều trong thời gian diễn biến dịch Covid-19
 
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, S&P Global Platts, FPTS tổng hợp.
 
Trong quý I/2020, sản lượng sản xuất của các nhà máy đạt 21,4 triệu tấn, tăng nhẹ 3% so với quý I/2019. Nguồn cung xi măng trên thị trường không bị ảnh hưởng do các nhà máy được phép hoạt động bình thường, kể cả trong thời gian Việt Nam áp dụng biện pháp cách ly toàn xã hội. Các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất cũng có sự thuận lợi nhất định khi các chi phí sản xuất như chi phí than (~30% chi phí sản xuất) từ nguồn nhập khẩu đang giảm do nhu cầu than giảm tại 3 thị trường tiêu thụ lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ ảnh hưởng bởi đại dịch. 

Đồng thời, các Bộ, ban ngành Việt Nam đề xuất giảm một số chi phí có liên quan tới ngành xi măng như giá điện sản xuất, giá than trong nước, thuế tài nguyên trước những ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới nền kinh tế. Trong đó, đề xuất giảm 10% giá điện sản xuất đã được chính phủ phê duyệt, áp dụng từ tháng 4 đến hết tháng 6/2020.

2. Một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về nguồn vốn sản xuất trong ngắn hạn

Mặc dù hoạt động sản xuất không bị gián đoạn bởi dịch Covid-19, nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trong giai đoạn đầu năm đang khiến một số doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn để duy trì hoạt động. Một số đơn vị đang có vấn đề về khả năng thanh toán các khoản chi phí hoạt động đến hạn do sản phẩm tiêu thụ chậm và tình hình tồn kho kéo dài.

 
Các doanh nghiệp trên đang nằm trong khoảng 20% số doanh nghiệp trong ngành có tình hình tài chính yếu kém như mức nợ vay cao, thâm hụt về nguồn vốn ngắn hạn hoặc hoạt động kinh doanh thua lỗ trong nhiều năm. Trong bối cảnh sản lượng tiêu thụ quý I/2020 sụt giảm cùng với công nợ và tồn kho gia tăng làm thâm hụt nguồn vốn sản xuất kinh doah, doanh nghiệp đang xin các biện pháp hỗ trợ từ chính phủ như hoãn nộp thuế, hoãn tiền thuê đất hoặc xin miễn giảm lãi vay, gia hạn nợ từ ngân hàng. Tuy nhiên, thời gian phê duyệt các biện pháp hỗ trợ có thể kéo dài, cũng như thủ tục chứng minh ngành nghề bị ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh rất phức tạp. Một số doanh nghiệp có thể không nhận được sự hỗ trợ kịp thời và phát sinh các rủi ro nghiêm trọng về tài chính.

3. Nguồn cung từ các nhà máy mới tăng vào nửa cuối năm 2020

Trong năm 2020, dự kiến sẽ có 2 nhà máy mới đi vào vận hành với công suất 8 triệu tấn/năm (tương đương với 9% tổng công suất xi măng của Việt Nam hiện tại) gồm: Nhà máy 2 triệu tấn/năm của Xi măng Tân Thắng (Nghệ An, đã vận hành ra sản phẩm tháng 4/2020), dây chuyền mở rộng 2,5 triệu tấn/năm của Xi măng Long Sơn (Thanh Hóa). Trong tình hình kém khả quan của ngành xi măng trong năm 2020, lượng công suất tăng thêm đáng kể này có thể dẫn tới tính trạng tiếp tục dư cung, đi kèm áp lực cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp (chủ yếu là cạnh tranh về giá) gây trở ngại tới khả năng hồi phục của các doanh nghiệp xi măng sau đại dịch.

VLXD.org (TH/ FPTS)

 

Các tin khác:

Ngành xi măng Việt Nam sau đại dịch Covid-19 ()

Tháng 4: Xuất khẩu xi măng và clinker đạt 2,8 triệu tấn ()

Những yếu tố ảnh hưởng đến đông kết và đóng rắn của xi măng portland ()

Tổng quan tiêu thụ xi măng toàn ngành 2 tháng đầu năm 2020 ()

Tổng quan tình hình xuất khẩu xi măng và clinker 2 tháng đầu năm 2020 ()

Đặc điểm của xi măng nở ()

Nhóm sản xuất và tiêu thụ xi măng được đánh giá không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh ()

Cuối năm: TP.HCM và Hà Nội dẫn đầu về sản lượng tiêu thụ xi măng ()

Tình hình tiêu thụ xi măng tại một số nước khu vực châu Á ()

Năm 2019: Xuất khẩu xi măng, clinker đạt xấp xỉ 34 triệu tấn ()

Chứng khoán:

CK

KL

Giá

+/-

GDNN

BBS

0

9.60

0.00

0

BCC

44800

7.40

-0.20

0

BHT

0

4.00

0.00

0

BT6

41630

5.50

-0.20

0

BTS

2

4.50

0.00

0

CCM

0

24.50

0.00

0

CTI

172540

35.15

-0.45

0

CVT

1060365

50.90

-0.50

3800

CYC

7980

2.40

0.00

0

DC4

1700

10.30

-1.10

0

DHA

0

29.70

0.00

0

DIC

0

6.10

0.00

0

DXV

10

3.82

-0.14

0

GMX

0

25.00

0.00

0

HCC

4400

16.60

0.00

0

HLY

0

15.60

0.00

0

HOM

0

4.10

0.00

0

HPS

0

7.00

0.00

0

HT1

4410

14.75

-0.45

0

HVX

0

4.10

0.00

0

MCC

0

13.80

0.00

0

NAV

10

5.00

0.00

0

NHC

0

36.40

0.00

0

NNC

20040

48.40

-0.30

0

QNC

20000

3.00

0.00

0

SCC

0

1.90

0.00

0

SCJ

3800

3.40

0.10

0

SCL

0

3.00

0.00

0

SDN

0

35.00

0.00

0

SDY

0

7.70

0.00

0

SHN

204400

9.90

-0.10

0

TBX

0

9.00

0.00

0

TCR

6120

3.42

0.22

0

TMX

100

7.60

-0.80

0

TSM

0

2.70

0.00

0

TTC

500

18.40

-0.10

0

TXM

0

9.70

0.00

0

CK

KL

Giá

+/-

GDNN

API

100

28.90

0.00

0

ASM

1098520

10.05

-0.75

0

B82

0

2.40

0.00

0

BCE

9160

5.85

0.03

0

BCI

51340

41.90

0.30

29170

C47

4400

11.60

-0.50

0

C92

0

10.00

0.00

0

CCL

42240

4.60

-0.13

0

CDC

0

17.50

0.00

0

CID

0

4.10

0.00

0

CID

100

2.90

0.70

0

CII

534340

31.35

-0.55

0

CLG

20

3.83

-0.27

0

CNT

6

9,7

-0,3

0

CNT

1800

2.90

-0.50

0

CSC

2200

24.50

0.00

0

CTD

92910

166.00

-3.50

0

CTN

14200

1.30

0.10

0

D11

0

15.70

0.00

0

D2D

3600

73.80

3.80

0

DC2

0

6.50

0.00

0

DIG

809400

27.40

-0.70

0

DIH

0

12.20

0.00

0

DLG

180700

3.20

-0.10

0

DLR

0

9.40

0.00

0

DRH

123220

18.85

-0.75

0

DTA

4500

7.25

-0.05

0

DXG

1223580

37.00

-1.20

0

HAG

1318480

7.00

-0.19

0

HBC

605600

42.40

-1.60

0

HDC

26070

14.40

-0.30

0

HDG

41680

47.00

-1.10

0

HLC

0

7.00

0.00

0

HQC

1951870

2.27

-0.05

0

HTI

1010

15.60

-0.35

0

HU1

20

9.50

0.36

0

HU1

0

0

0

0

HU3

101480

14.10

0.85

0

HUT

590150

8.70

-0.20

600

ICG

0

6.40

0.00

0

IDI

958390

13.00

-0.70

0

IDJ

40400

3.10

0.00

0

IDV

1000

31.80

-0.40

0

IJC

80950

9.20

-0.24

0

ITA

579100

3.01

-0.05

0

ITC

990

14.30

-0.60

0

KAC

0

15.55

0.00

0

KBC

1171890

12.90

-0.55

0

KDH

19700

35.85

-1.10

0

L10

0

17.90

0.00

0

L18

0

8.60

0.00

0

LCG

20

9.70

-0.45

0

LGL

10260

9.30

-0.01

0

LHC

0

56.00

0.00

0

LHG

43770

21.30

-0.40

0

LIG

6400

3.90

0.00

0

LM8

2050

25.00

0.70

0

LUT

0

2.10

0.00

0

MCG

140

3.39

0.20

0

MDG

0

13.50

0.00

0

NBB

19570

23.75

-1.75

0

NDN

191728

15.70

-0.40

0

NHA

0

12.20

0.00

0

NKG

140960

29.70

-1.20

0

NTB

439

7,7

0,3

0

NTB

81851

0.50

0.00

0

NTL

109860

9.50

-0.30

0

NVT

1534720

7.07

0.46

0

OGC

282600

2.09

-0.06

0

PDR

261560

38.40

-1.00

0

PFL

297505

1.60

0.10

0

PFL

141500

1.50

0.00

0

PHC

71700

17.00

-0.30

0

PHH

5100

6.90

-0.10

0

PHH

21100

7.00

0.00

0

PPI

34160

1.52

-0.01

0

PSG

47600

0.80

0.00

0

PSG

10

6,2

0,2

0

PTC

60

6.11

0.00

0

PTL

500

3.61

-0.09

0

PVA

4

14,7

0,9

7

PVA

28200

1.20

0.00

0

PVL

42600

2.30

0.00

0

PVR

16900

2.80

0.20

0

PVV

800

1.40

0.10

400

PVX

1535849

2.10

-0.10

0

PXA

0

1.10

0.00

0

PXI

6400

2.10

0.00

0

PXL

341300

1.90

0.00

0

PXS

25800

7.68

-0.03

0

PXT

0

3.90

0.00

0

QCG

423450

13.30

-0.50

0

RCL

0

19.00

0.00

0

REE

520000

37.60

-1.10

0

S96

56400

1.00

-0.10

0

S96

2

12,6

0,8

10

S99

675

5.10

0.00

0

SC5

0

24.20

0.00

0

SD2

1

4.70

0.00

0

SD3

6

6,4

0,4

0

SD3

6000

6.60

-0.40

0

SD5

300

9.70

0.00

0

SD6

500

6.60

0.20

0

SD7

0

3.40

0.00

0

SD9

0

8.40

0.00

0

SDH

0

1.90

0.00

0

SDT

0

7.80

0.00

0

SDU

0

11.50

0.00

0

SIC

0

12.90

0.00

0

SJE

0

28.00

0.00

0

SJS

34000

31.50

-0.10

0

STL

5500

3.30

0.00

0

STL

7

12,8

0,8

0

SZL

10

34.45

0.45

0

TDC

70250

9.01

-0.05

0

TDH

140230

15.10

-0.50

0

THG

560

42.90

0.30

0

TIG

190800

3.70

-0.30

0

TIX

0

30.10

0.00

0

TKC

500

26.70

0.00

0

TV1

10

17.85

0.45

0

TV2

15150

111.30

-3.70

0

TV3

0

25.30

0.00

0

TV4

0

15.80

0.00

0

UDC

10010

3.45

-0.10

0

UIC

18370

30.40

0.30

0

V11

5

4,9

0,2

0

V11

0

1.00

0.00

0

V12

0

11.00

0.00

0

V15

31000

1.10

0.00

0

V15

30500

0.90

0.00

0

V21

0

19.40

0.00

0

VC1

0

12.00

0.00

0

VC2

0

14.20

0.00

0

VC3

75400

19.30

-0.30

0

VC5

8800

1.90

0.00

0

VC7

0

17.50

0.00

0

VC9

0

13.00

0.00

0

VCG

587414

23.10

-0.80

13200

VCR

0

3.10

0.00

0

VE1

4100

19.10

0.10

0

VE2

0

11.40

0.00

0

VE3

0

11.00

0.00

0

VE9

25688

7.30

0.50

0

VHH

2

4,5

-0,3

0

VHH

0

1.40

0.00

0

VIC

667400

108.20

0.20

0

VMC

22730

50.80

-1.70

0

VNE

60760

6.76

-0.24

0

VNI

45340

4.40

0.00

0

VNI

0

6.60

0.00

0

VPH

44330

9.27

-0.30

0

VRC

62320

20.20

-0.60

0

VSI

20

19.90

1.30

0

KCC Highways: Major Resurfacing

Xem các video khác