Trong tuần qua, thị trường vật liệu xây dựng ghi nhận nhiều thông tin đáng chú ý, từ việc Chính phủ yêu cầu xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, đến những tín hiệu tích cực từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp xi măng, thép và xây dựng.
Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp thông tin về các mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối. Cùng với đó, nhóm 16 doanh nghiệp xi măng có doanh thu cao nhất trong 14 quý gần nhất tiếp tục cho thấy sự phân hóa về hiệu quả kinh doanh; ASEAN giữ vị trí thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong nửa đầu năm 2026; trong khi Tập đoàn Hòa Phát đặt mục tiêu sản lượng gần 15 triệu tấn thép trong năm nay, mức cao nhất từ trước đến nay.

Ngoài ra, lợi nhuận sau thuế của 100 doanh nghiệp xây dựng tăng 52%, Đà Nẵng đẩy mạnh khai thác nguồn khoáng sản phục vụ đầu tư công và một dự án thí điểm thu giữ, khoáng hóa CO₂ tại nhà máy xi măng ở UAE cũng là những thông tin đáng chú ý trong tuần.
Điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia
Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia. Chỉ đạo được đưa ra sau khi xem xét báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại Văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS ngày 10/8/2026 về tình hình nguồn cung và khả năng điều phối vật liệu xây dựng trên cả nước. Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng. Hệ thống sẽ tích hợp dữ liệu về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối, đồng thời được cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.
Đây được xem là một bước quan trọng trong việc chuyển từ quản lý nguồn vật liệu theo từng địa phương sang quản lý theo hướng liên vùng, liên tỉnh, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án hạ tầng quy mô lớn ngày càng tăng. Theo chỉ đạo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường còn được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng và liên tỉnh trong tháng 10/2026, bảo đảm ưu tiên cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia. Đồng thời, các địa phương được yêu cầu chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030-2045, hạn chế tình trạng bị động khi triển khai các dự án quy mô lớn.
16 doanh nghiệp xi măng mang lại doanh thu cao nhất trong 14 quý gần nhất
Trong 14 quý gần nhất, nhóm 16 doanh nghiệp xi măng có doanh thu cao nhất ghi nhận sự phân hóa đáng kể về quy mô kinh doanh và khả năng duy trì tăng trưởng. Đây là nhóm doanh nghiệp có vai trò nổi bật trên thị trường, với doanh thu được tổng hợp theo từng quý, qua đó phản ánh rõ hơn diễn biến hoạt động kinh doanh và mức độ phục hồi của ngành sau giai đoạn nhu cầu suy yếu kéo dài. Theo thống kê, trong quý II/2026, 16 doanh nghiệp xi măng trên sàn chứng khoán ghi nhận tổng doanh thu gần 6.900 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong 14 quý. Đây cũng là quý thứ 5 liên tiếp nhóm doanh nghiệp này có lãi. Tuy nhiên, lợi nhuận ròng vẫn chịu sức ép khi chi phí đầu vào và cạnh tranh về giá tiếp tục ảnh hưởng đến biên lợi nhuận.
Tiến độ giải ngân đầu tư công được thúc đẩy cùng sự phục hồi của hoạt động xây dựng đang tạo thêm động lực cho thị trường vật liệu xây dựng trong năm 2026. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý II/2026 tăng 8,39% so với cùng kỳ; riêng khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, trong đó ngành xây dựng tăng 9,51%. Những con số này cho thấy nhu cầu thị trường đang có dấu hiệu cải thiện, song sự phục hồi của ngành xi măng vẫn chưa đồng đều. Áp lực dư cung, chi phí nhiên liệu và nguyên liệu cùng cạnh tranh về giá tiếp tục là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp.
Khối ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của thép Việt Nam
Theo số liệu của Cục Hải quan được Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (VITIC) tổng hợp, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,55 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 3,70 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 1,79%, nhưng kim ngạch tăng nhẹ 0,27%, trong khi giá xuất khẩu bình quân tăng 2,09%, lên khoảng 667 USD/tấn. Riêng thị trường ASEAN, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,88 triệu tấn sắt thép, trị giá 1,15 tỷ USD, tăng lần lượt 7,58% về lượng và 8,81% về trị giá. ASEAN chiếm khoảng 33,92% tổng lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm. Indonesia và Malaysia là hai thị trường đáng chú ý trong khu vực. Xuất khẩu sang Indonesia đạt khoảng 452.055 tấn, tăng 32,04% về lượng; trong khi Malaysia đạt khoảng 396.112 tấn, tăng 25,67%. Ngược lại, xuất khẩu sang Thái Lan giảm hơn 21% về lượng, cho thấy nhu cầu trong nội khối ASEAN đang có sự phân hóa.
Bên ngoài ASEAN, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm sáng khi lượng thép xuất khẩu sang thị trường này tăng 35,14% so với cùng kỳ. Đặc biệt, Brazil tăng tới 232,25% về lượng, còn Thổ Nhĩ Kỳ tăng 151,98%. Những diễn biến này cho thấy doanh nghiệp thép Việt Nam đang từng bước đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Tuy nhiên, xuất khẩu sang EU vẫn đối mặt với những thách thức nhất định do nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi hoàn toàn, cạnh tranh nguồn cung và các yêu cầu về phòng vệ thương mại, môi trường ngày càng cao.
Tập đoàn Hòa Phát đặt mục tiêu tăng sản lượng thép lên mức cao nhất từ trước đến nay
Tại phiên gặp gỡ nhà đầu tư trong khuôn khổ Hội nghị Emerging Vietnam 2026, bà Phạm Thị Kim Oanh, Giám đốc Tài chính Tập đoàn Hòa Phát (HPG), cho biết Hòa Phát đặt mục tiêu sản lượng gần 15 triệu tấn thép trong năm 2026, tăng xấp xỉ 40% so với năm 2025 và là mức cao nhất từ trước đến nay. Động lực tăng trưởng chính đến từ Khu liên hợp gang thép Dung Quất 2 khi các dây chuyền từng bước vận hành ổn định. Năm 2025, Hòa Phát tiêu thụ 10,6 triệu tấn thép, lần đầu tiên vượt mốc 10 triệu tấn. Bước sang năm 2026, mục tiêu được nâng lên gần 15 triệu tấn, trong đó phần tăng thêm chủ yếu đến từ thép cuộn cán nóng (HRC) sản xuất tại Dung Quất 2. Khi toàn bộ dây chuyền vận hành ổn định, riêng dự án này dự kiến đóng góp thêm khoảng 3-4 triệu tấn HRC mỗi năm.
Theo kế hoạch, tổng công suất thép thô của Hòa Phát dự kiến đạt khoảng 18 triệu tấn/năm vào năm 2027, gồm 9 triệu tấn HRC và 9 triệu tấn thép dài. Bên cạnh việc mở rộng quy mô, doanh nghiệp cũng đang chuyển trọng tâm sang các sản phẩm thép chất lượng cao, phục vụ cơ khí chế tạo, ô tô, đóng tàu, dầu khí, kết cấu thép và năng lượng. Đáng chú ý, Hòa Phát đang đẩy nhanh tiến độ Nhà máy sản xuất ray đường sắt và thép đặc biệt tại Dung Quất, với công suất thiết kế 700.000 tấn/năm. Dự án dự kiến cho ra lò sản phẩm ray đường sắt cao tốc đầu tiên trong quý I/2027. Đây được kỳ vọng là bước mở rộng quan trọng sang phân khúc thép có yêu cầu kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn.
Lợi nhuận sau thuế 100 doanh nghiệp xây dựng tăng 52%
Theo thống kê của VietstockFinance, 100 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết và đăng ký giao dịch trên HoSE, HNX và UPCoM đạt tổng doanh thu gần 57.000 tỷ đồng trong quý II/2026, tăng 12% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 2.200 tỷ đồng, tăng tới 52%. So với quý I, doanh thu và lợi nhuận lần lượt tăng 63% và 72%, trong khi biên lợi nhuận gộp duy trì quanh mức 10%. Tuy nhiên, phía sau mức tăng trưởng chung là sự phân hóa đáng kể giữa các doanh nghiệp.
Trong số 100 doanh nghiệp được thống kê, 47 đơn vị ghi nhận lợi nhuận tăng so với cùng kỳ, trong đó 16 doanh nghiệp tăng bằng lần. Ở chiều ngược lại, 25 doanh nghiệp giảm lợi nhuận. Một số doanh nghiệp chuyển từ lỗ sang lãi, song không ít đơn vị vẫn tiếp tục thua lỗ hoặc ghi nhận kết quả kinh doanh suy giảm mạnh. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của hoạt động xây dựng đang lan tỏa rõ hơn sang kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng hưởng lợi giữa các doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào cơ cấu dự án, năng lực triển khai, chi phí tài chính và khả năng kiểm soát giá vốn.
TP Đà Nẵng khoanh định 50 vị trí khoáng sản không đấu giá để tiếp tục khai thác
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng cho biết thành phố đã khoanh định khoảng 50 vị trí khoáng sản không đấu giá để tiếp tục khai thác, phục vụ các dự án đầu tư công. Trong số này có nhiều mỏ đá, mỏ cát đã hết giấy phép khai thác nhưng còn trữ lượng lớn. Nếu sớm được đưa vào khai thác trở lại, các nguồn này có thể góp phần bổ sung đáng kể nguồn cung vật liệu xây dựng trên địa bàn. Trước đó, UBND TP Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 990/QĐ-UBND ngày 20/3/2026, phê duyệt danh mục 40 khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để cung cấp vật liệu xây dựng thông thường cho các công trình, dự án. Danh mục gồm 6 khu vực mỏ đất san lấp, 11 mỏ cát, sỏi và 23 mỏ đá.
Áp lực nguồn cung tại Đà Nẵng là đáng kể khi nhu cầu vật liệu xây dựng thông thường của 3 Ban Quản lý dự án trong giai đoạn 2026-2030 được tổng hợp ở mức hơn 41,4 triệu m³. Trong đó, nhu cầu đá xây dựng hơn 10 triệu m³, cát xây dựng hơn 4,6 triệu m³ và đất san lấp hơn 26,7 triệu m³. Thành phố đang triển khai đồng thời nhiều giải pháp như rà soát, thăm dò các khu vực khoáng sản, nâng công suất các mỏ đủ điều kiện, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tổ chức đấu giá những khu vực đã được phê duyệt. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác được tăng cường nhằm bảo đảm việc bổ sung nguồn cung đi đôi với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Vận hành thử nghiệm hệ thống thu giữ CO₂ trực tiếp từ khí thải nhà máy xi măng
Holcim UAE và công ty lưu trữ carbon 44.01 đã đưa vào vận hành toàn thời gian hệ thống thí điểm thu giữ CO₂ trực tiếp từ khí thải tại Nhà máy Xi măng Fujairah, sau đó vận chuyển và khoáng hóa CO₂ trong các tầng đá tự nhiên dưới lòng đất. Hệ thống được vận hành từ ngày 15/7/2026, với mục tiêu thu giữ khoảng 4-4,5 tấn CO₂ mỗi ngày. Dự án được giới thiệu là chương trình thí điểm đầu tiên tại UAE thực hiện thu giữ CO₂ liên tục từ hoạt động sản xuất xi măng trong điều kiện vận hành thực tế, đồng thời kết nối trực tiếp công đoạn thu giữ tại nhà máy với công nghệ khoáng hóa địa chất của 44.01.
Sau khi được tách khỏi dòng khí thải, CO₂ được đưa tới khu vực khoáng hóa tại Fujairah. Tại đây, CO₂ được đưa xuống các tầng đá siêu mafic tự nhiên, trong đó có đá peridotite, để phản ứng với các khoáng chất chứa canxi và magie, chuyển hóa thành các carbonate rắn. Theo kế hoạch, hệ thống sẽ tiếp tục vận hành trong 6 tháng nhằm thu thập dữ liệu thực tế, đánh giá hiệu suất và khả năng mở rộng công nghệ. Với công suất 4-4,5 tấn CO₂/ngày, tương đương khoảng 1.460-1.640 tấn/năm nếu vận hành liên tục, dự án vẫn ở quy mô thí điểm và còn cách xa quy mô phát thải của một nhà máy xi măng thương mại. Tuy nhiên, việc thử nghiệm toàn bộ chuỗi từ thu giữ, vận chuyển đến khoáng hóa CO₂ trong điều kiện sản xuất thực tế có thể cung cấp dữ liệu quan trọng cho quá trình đánh giá khả năng mở rộng công nghệ CCUS trong ngành xi măng.
BuilData




