Theo Sở Xây dựng Quảng Ngãi, xét về tài nguyên khoáng sản, tỉnh vẫn có khả năng đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng thông thường trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, nghịch lý hiện nay là nguồn tài nguyên còn khá lớn nhưng công suất khai thác thực tế chưa đáp ứng nhu cầu, đặc biệt đối với cát xây dựng. Trong khi đó, một số doanh nghiệp sau khi trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản chưa chủ động hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hệ quả là nhiều mỏ dù đã được xác lập quyền khai thác nhưng vẫn chưa thể chuyển sang giai đoạn cấp phép và khai thác thực tế.
Thông tin từ Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi ngày 18/8/2026 cho biết, Sở vừa báo cáo UBND tỉnh về tình hình cung ứng vật liệu xây dựng thông thường gồm đá, cát và đất san lấp trên địa bàn. Theo báo cáo, Quảng Ngãi hiện có 45 mỏ đá xây dựng được cấp phép còn hiệu lực, với tổng trữ lượng còn lại khoảng 51,6 triệu m³, công suất được cấp phép 3,25 triệu m³/năm.

Đối với cát xây dựng, toàn tỉnh có 39 mỏ còn hiệu lực, tổng trữ lượng còn lại khoảng 3,2 triệu m³, công suất khai thác được cấp phép khoảng 0,725 triệu m³/năm. Trong khi đó, 23 mỏ đất san lấp có tổng trữ lượng còn lại khoảng 18,38 triệu m³, công suất được cấp phép khoảng 7,33 triệu m³/năm.
Cát xây dựng thiếu nghiêm trọng
Năm 2026, nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh được dự báo khoảng 2,9 triệu m³ đá, 2,4 triệu m³ cát và 8 triệu m³ đất san lấp. Nếu chỉ tính theo công suất khai thác được cấp phép, nguồn đá xây dựng trên toàn tỉnh về lý thuyết có thể đáp ứng khoảng 112% nhu cầu năm 2026; đất san lấp đáp ứng khoảng 91%. Riêng nguồn cát chỉ đáp ứng khoảng 36% nhu cầu.
Tình trạng thiếu vật liệu cũng có sự khác biệt đáng kể giữa khu vực phía Đông và phía Tây. Tại khu vực phía Đông, các mỏ đá có tổng công suất được cấp phép khoảng 2,61 triệu m³/năm, trong khi nhu cầu khoảng 1,95 triệu m³, cơ bản đáp ứng nhu cầu. Tuy nhiên, một phần sản lượng khai thác được tiêu thụ ngoài tỉnh, năng lực thực tế tại một số mỏ chưa đạt công suất được cấp phép và cự ly vận chuyển chưa hợp lý nên vẫn xảy ra thiếu hụt cục bộ.
Trong khi đó, khu vực phía Tây chỉ có công suất đá được cấp phép khoảng 0,63 triệu m³/năm, trong khi nhu cầu khoảng 0,95 triệu m³, tương đương khả năng đáp ứng 66%. Sở Xây dựng đánh giá tình trạng thiếu hụt tại khu vực này nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công và giải ngân các công trình, dự án đầu tư công.
Đối với cát xây dựng, nguồn cung thiếu hụt nghiêm trọng ở cả hai khu vực. Phía Đông có công suất được cấp phép khoảng 0,53 triệu m³/năm, chỉ đáp ứng 31% nhu cầu 1,7 triệu m³. Phía Tây có công suất khoảng 0,17 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 24% nhu cầu 0,7 triệu m³. Như vậy, ngay cả trong trường hợp các mỏ đang được cấp phép khai thác hoạt động đúng công suất, nguồn cát hiện hữu vẫn còn thiếu khoảng 1,675 triệu m³ so với nhu cầu dự kiến trong năm 2026.
Hàng loạt mỏ đã có nhưng chưa thể khai thác
Đất san lấp có khả năng đáp ứng tốt hơn, song vẫn xảy ra thiếu hụt cục bộ. Khu vực phía Đông có công suất 6,04 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 93% nhu cầu; phía Tây có công suất 1,29 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 86%.
Một số dự án lớn, trọng điểm như Khu đô thị sinh thái Coastal Quảng Ngãi và dự án đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi đang được xác định có tình trạng thiếu đất san lấp cục bộ. Riêng dự án đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi trước đây được tính toán cần khoảng 5 triệu m³ đất đắp và 460.000 m³ cát cho toàn dự án, trong đó nguồn mỏ phải tiếp tục được hoàn thiện thủ tục để đáp ứng phần nhu cầu còn thiếu.
Theo Sở Xây dựng Quảng Ngãi, xét về tài nguyên khoáng sản, tỉnh vẫn có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong trung và dài hạn. Vấn đề hiện nay không hẳn là thiếu tài nguyên mà là nguồn tài nguyên chưa chuyển hóa kịp thành năng lực cung ứng thực tế. Cụ thể, có 11 mỏ đá với tổng trữ lượng khoảng 7,2 triệu m³ chưa hoàn tất thủ tục; 39 mỏ cát với tổng trữ lượng khoảng 4,2 triệu m³ và 14 mỏ đất san lấp với tổng trữ lượng khoảng 16,3 triệu m³ cũng đang trong tình trạng tương tự.
Đáng chú ý, số lượng mỏ cát đang chờ hoàn thiện thủ tục tương đương toàn bộ số mỏ cát hiện còn hiệu lực đang được thống kê trong nguồn cung hiện tại. Điều này cho thấy dư địa tăng nguồn cung cát của Quảng Ngãi là khá lớn nếu các thủ tục được tháo gỡ và doanh nghiệp sớm đưa mỏ vào khai thác. Ngoài ra, khu vực phía Tây còn 11 mỏ đá đã bị thu hồi hoặc không được gia hạn giấy phép khai thác nhưng chưa được xem xét cấp lại. Một số mỏ đã hết hạn mức khai thác trong năm, nhất là đối với đá và đất đắp, càng làm thu hẹp nguồn cung thực tế.
Điểm nghẽn nằm ở thủ tục và mặt bằng
Việc hoàn thiện hồ sơ thăm dò, môi trường, đất đai và các thủ tục liên quan còn kéo dài. Công tác bồi thường, thỏa thuận quyền sử dụng đất để tiếp cận khu vực mỏ cũng gặp khó khăn. Trong khi đó, một số doanh nghiệp sau khi trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản chưa chủ động hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hệ quả là nhiều mỏ dù đã được xác lập quyền khai thác nhưng vẫn chưa thể chuyển sang giai đoạn cấp phép và khai thác thực tế.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến bài toán cung - cầu vật liệu của tỉnh xuất hiện nghịch lý: trữ lượng tài nguyên vẫn còn, nhiều mỏ đã được quy hoạch hoặc đấu giá, nhưng nguồn vật liệu cung cấp cho công trường trong ngắn hạn vẫn thiếu.
Bên cạnh thủ tục, năng lực khai thác thực tế cũng là vấn đề cần được quan tâm. Công suất ghi trên giấy phép không đồng nghĩa với sản lượng thực tế. Một số mỏ chưa khai thác hết công suất do điều kiện địa chất, mặt bằng, đường vận chuyển, thiết bị, thị trường hoặc các thủ tục liên quan.
Việc một phần sản lượng đá được đưa ra ngoài tỉnh trong khi một số khu vực của Quảng Ngãi thiếu nguồn cung cũng đặt ra yêu cầu phải tính toán lại bài toán phân bổ và điều tiết vật liệu theo từng khu vực, từng thời điểm.
Nhu cầu tăng nhanh gây áp lực lên nguồn cung
Cùng với những hạn chế về khai thác, nhu cầu vật liệu trên địa bàn tỉnh tăng mạnh khi nhiều dự án giao thông, khu đô thị, khu công nghiệp và công trình trọng điểm được triển khai đồng thời. Trong đó, nhu cầu đất đắp và cát phục vụ các dự án hạ tầng lớn tạo áp lực đáng kể lên các mỏ đang hoạt động. Nếu nguồn cung mới không được bổ sung kịp thời, tình trạng thiếu cục bộ có thể tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ thi công, chi phí vận chuyển và giá thành xây dựng.
Theo Sở Xây dựng, công tác khảo sát, dự báo và đăng ký nhu cầu vật liệu của một số chủ đầu tư, ban quản lý dự án và địa phương có thời điểm chưa sát thực tế. Việc thiếu thông tin đầy đủ, cập nhật về thời gian, khối lượng và chủng loại vật liệu cần sử dụng cũng khiến cơ quan quản lý khó chủ động cân đối nguồn cung.
Vì vậy, bên cạnh việc tháo gỡ thủ tục cho các mỏ, Quảng Ngãi cần chuyển từ cách xử lý thiếu vật liệu theo từng dự án sang chủ động lập kế hoạch cân đối nguồn cung theo khu vực và theo tiến độ đầu tư.
Gỡ thủ tục, đưa mỏ vào khai thác
Để giải quyết tình trạng thiếu vật liệu, Sở Xây dựng đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp cấp bách trong năm 2026. Trước mắt, tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ thủ tục để đưa những mỏ đã có cơ sở pháp lý hoặc đã trúng đấu giá vào khai thác; rà soát cụ thể từng mỏ, phân loại nguyên nhân chậm triển khai theo các nhóm thủ tục về thăm dò, môi trường, đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý.
Đối với các mỏ đã trúng đấu giá nhưng doanh nghiệp chậm hoàn thiện hồ sơ, cần xác định rõ nguyên nhân, yêu cầu cam kết tiến độ và xử lý theo quy định đối với trường hợp không đủ năng lực hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ.
Sở cũng đề xuất rà soát các mỏ đang khai thác nhưng sản lượng thực tế thấp hơn đáng kể so với công suất được cấp phép, nghiên cứu điều chỉnh, nâng công suất hoặc gia hạn giấy phép đối với những mỏ đủ điều kiện. Đặc biệt, tỉnh sẽ ưu tiên tháo gỡ nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm, trong đó có đất san lấp phục vụ Khu đô thị sinh thái Coastal Quảng Ngãi, dự án đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi và nguồn đá phục vụ dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 676.
Sở Xây dựng cũng kiến nghị tăng cường theo dõi, điều tiết và kiểm soát nguồn cung, giá vật liệu; thường xuyên cập nhật tình hình khai thác, tồn trữ, cung ứng và nhu cầu sử dụng đá, cát, đất san lấp để kịp thời tham mưu UBND tỉnh khi phát sinh nguy cơ thiếu hụt.
Không để xảy ra tình trạng “đấu giá xong nhưng chậm khai thác”
Về dài hạn, trong giai đoạn 2027-2030, Quảng Ngãi định hướng tiếp tục đẩy nhanh đấu giá quyền khai thác khoáng sản gắn với dự báo nhu cầu và tiến độ các dự án lớn, hạn chế tình trạng “đấu giá xong nhưng chậm đưa mỏ vào khai thác”.
Theo hướng này, việc đấu giá một mỏ không nên chỉ được xem là hoàn thành khi xác lập được quyền khai thác, mà cần gắn với khả năng đưa nguồn tài nguyên vào cung ứng thực tế theo một mốc thời gian cụ thể.
Tỉnh cũng định hướng xác định nguồn vật liệu ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, nhất là đối với các công trình có nhu cầu lớn. Việc xác định sớm nguồn mỏ, công suất, cự ly vận chuyển và khả năng cung ứng sẽ giúp chủ đầu tư hạn chế rơi vào tình trạng đến khi triển khai thi công mới phát hiện thiếu vật liệu.
Bên cạnh đó, Quảng Ngãi sẽ khuyến khích sử dụng cát nghiền thay thế một phần cát tự nhiên, tận dụng hợp lý đất đào từ các công trình và vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng sau khi đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật và môi trường.
BuilData




