Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.
Chỉ đạo được đưa ra sau khi xem xét báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại Văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS ngày 10/8/2026 về tình hình nguồn cung và khả năng điều phối vật liệu xây dựng trên cả nước.

Ảnh minh họa: Baodauthau
Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng. Hệ thống sẽ tích hợp thông tin về các mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối; đồng thời được cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.
Cùng với cơ sở dữ liệu, Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng sẽ được công bố định kỳ hằng năm, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và hỗ trợ các địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng vật liệu xây dựng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng được giao phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng, liên tỉnh trong tháng 10/2026, trong đó ưu tiên nguồn cung cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.
Cơ quan quản lý đồng thời sẽ xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu, cơ chế điều phối theo vùng kinh tế và hệ thống dự báo cung - cầu theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển. Hằng năm, tình hình cung - cầu vật liệu xây dựng trên cả nước sẽ được tổng hợp, đánh giá để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, làm cơ sở xem xét điều chỉnh phương án điều phối khi cần thiết.
Rà soát quỹ mỏ, chủ động nguồn cung dài hạn
Đối với các địa phương, Chính phủ yêu cầu hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước quý II/2027 theo thẩm quyền.
Các tỉnh, thành phố phải bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp để điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản.
Đồng thời, các địa phương phải khẩn trương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan; bổ sung các khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng.
Các mỏ đang khai thác cũng được yêu cầu rà soát để xem xét điều chỉnh công suất đối với những trường hợp đủ điều kiện theo thẩm quyền và quy định pháp luật, qua đó đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm.
Đáng chú ý, các địa phương phải chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng cho các dự án trong giai đoạn 2030 - 2045, tránh tình trạng bị động khi nhiều dự án quy mô lớn đồng thời triển khai.
Bộ Tài chính được giao phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền về việc bố trí nguồn lực tài chính cho công tác điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản tại những địa phương còn khó khăn.
Từ “có tài nguyên” đến bảo đảm khả năng cung ứng
Theo kết quả rà soát được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của Việt Nam về tổng thể cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các công trình trọng điểm quốc gia trong trung và dài hạn.
Nhiều địa phương có tài nguyên tương đối phong phú, trữ lượng lớn, công suất khai thác vẫn còn khả năng nâng lên và có thể hỗ trợ nguồn cung cho địa phương khác.
Tuy nhiên, nguồn khoáng sản phân bố không đồng đều, trong khi nhu cầu vật liệu lại tập trung cao tại những khu vực đồng thời triển khai nhiều dự án lớn. Khoảng cách giữa nơi có nguồn cung và nơi phát sinh nhu cầu, nếu không được nhận diện và điều phối kịp thời, có thể làm gia tăng chi phí vận chuyển, ảnh hưởng tiến độ thi công và tạo áp lực lên giá vật liệu.
Bên cạnh đó, tiến độ điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng, cập nhật quy hoạch, chuẩn bị quỹ mỏ, cấp phép khai thác, nâng công suất và điều phối giữa các địa phương có thời điểm chưa theo kịp nhu cầu thực tế. Đây là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng thiếu hụt cục bộ một số loại vật liệu tại một số địa phương.
Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm đủ tài nguyên mà còn phải bảo đảm khả năng đưa tài nguyên vào khai thác và cung ứng đúng thời điểm, đúng địa bàn, đúng nhu cầu.
Do đó, trọng tâm đặt ra không chỉ là tìm thêm tài nguyên, mà là nâng hiệu quả quản trị và khả năng điều phối nguồn cung trên phạm vi quốc gia, từ khâu điều tra địa chất, quy hoạch, chuẩn bị quỹ mỏ, cấp phép khai thác đến xây dựng dữ liệu, dự báo và phân bổ nguồn vật liệu giữa các khu vực.
Việc hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia, bản đồ số và cơ chế điều phối liên vùng, liên tỉnh sẽ tạo nền tảng để chuyển từ cách xử lý thiếu vật liệu theo từng dự án, từng địa phương sang phương thức quản lý nguồn cung chủ động ở quy mô quốc gia. Đây cũng là cơ sở để các địa phương sớm chuẩn bị nguồn vật liệu cho các dự án trung và dài hạn, hạn chế nguy cơ thiếu hụt cục bộ khi nhu cầu tăng đột biến.
Về lâu dài, việc đồng bộ giữa điều tra tài nguyên, quy hoạch, cấp phép, công suất khai thác, hạ tầng vận chuyển và dự báo nhu cầu sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng ổn định, góp phần giữ tiến độ các công trình trọng điểm quốc gia và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
BuilData




