Năm 2026, Sở Xây dựng tỉnh Cao Bằng phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan tổ chức rà soát tổng thể 204 mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) thông thường trên địa bàn tỉnh. Trong số này có 110 mỏ đá, 32 mỏ cát, sỏi, 56 mỏ đất và 6 mỏ sét, phân bố tại nhiều huyện, thành phố, là nguồn cung quan trọng phục vụ phát triển hạ tầng và xây dựng dân dụng.
Qua rà soát, các cơ quan chuyên môn đã xác định 10 mỏ khoáng sản đủ điều kiện để hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường và cấp phép khai thác, đưa vào hoạt động trong năm 2026. Các mỏ này gồm 7 mỏ đá, 2 mỏ cát sỏi đồi và 1 mỏ đất san lấp đã được thăm dò, phê duyệt trữ lượng theo quy định. Việc sớm đưa các mỏ vào khai thác được kỳ vọng sẽ góp phần bổ sung nguồn cung VLXD, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các dự án đầu tư công và tư nhân trên địa bàn.

Theo đánh giá của ngành chức năng, giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu VLXD tại Cao Bằng sẽ tăng mạnh do nhiều công trình, dự án trọng điểm được triển khai đồng loạt. Nổi bật là các dự án giao thông chiến lược như cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng, đường Hồ Chí Minh đoạn Pác Bó - Trung tâm tỉnh; các dự án trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại khu vực biên giới; cùng với đó là các công trình nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, khu tái định cư và hạ tầng đô thị.
Việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục, đưa các mỏ khoáng sản vào khai thác không chỉ bảo đảm nguồn cung VLXD ổn định mà còn góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý khoáng sản. Trong đó có các vấn đề liên quan đến diện tích quy hoạch mỏ, bố trí khu vực phụ trợ phục vụ khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản cũng như tình trạng chồng lấn giữa quy hoạch khoáng sản với các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm chủ động cân đối cung - cầu vật liệu xây dựng, hạn chế nguy cơ khan hiếm hoặc biến động giá trong thời gian tới.
Bên cạnh việc phát triển nguồn cung, tỉnh Cao Bằng đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng năng lực cung ứng khoáng sản làm VLXD thông thường tăng bình quân khoảng 25%/năm so với năm 2025; hình thành ít nhất 2 khu vực khai thác, sản xuất VLXD tập trung gắn với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và bảo vệ môi trường.
Tỉnh cũng chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, giám sát hoạt động khai thác, vận chuyển và tiêu thụ vật liệu xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, sử dụng tiết kiệm tài nguyên.
Đồng thời, ngành xây dựng sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ khai thác, chế biến, phát triển các dòng vật liệu xây dựng xanh, vật liệu mới, vật liệu tái chế thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của tỉnh.
Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục rà soát, điều chỉnh Kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 theo hướng phù hợp với tình hình thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Việc cập nhật, đánh giá đầy đủ nhu cầu và khả năng cung ứng VLXD sẽ tạo cơ sở quan trọng cho công tác điều hành thị trường, thu hút đầu tư, bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ các công trình trọng điểm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng và đời sống người dân trên địa bàn tỉnh.
Buildata




