Nghị quyết vừa ban hành quy định mức thu và đơn vị tính phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác 18 loại khoáng sản trên địa bàn TP.HCM. Đối với nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng như đá xây dựng thông thường, đá nung vôi, đá làm xi măng, đất sét, cát vàng, cát trắng và các loại cát khác, mức thu dao động từ 2.000 đồng đến 10.500 đồng/m³, tùy từng loại khoáng sản.
HĐND TP.HCM đã ban hành Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND quy định mức thu và đơn vị tính phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác 18 loại khoáng sản trên địa bàn thành phố. Nghị quyết được thông qua ngày 19/6/2026, có hiệu lực từ ngày 29/6/2026 và thay thế các quy định trước đây của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.

Việc ban hành nghị quyết nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 27/2023/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời thống nhất chính sách thu phí trên toàn địa bàn TP.HCM mới. Đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý thực hiện công tác thu, quản lý và sử dụng nguồn phí, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
Đối tượng áp dụng của nghị quyết bao gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác quản lý, thu và nộp phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn thành phố.
Nhóm vật liệu xây dựng có mức thu từ 2.000 đồng đến 10.500 đồng/m³
Theo nghị quyết, mức thu phí bảo vệ môi trường được quy định đối với 18 loại khoáng sản, căn cứ vào đặc tính, giá trị kinh tế và mức độ tác động đến môi trường của từng loại.
Đối với nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, đá làm vật liệu xây dựng thông thường có mức thu 7.500 đồng/m³. Đá nung vôi, đá làm xi măng, phụ gia xi măng và các khoáng chất công nghiệp theo quy định của pháp luật về khoáng sản như serpentin, barit, bentonit có mức thu 6.750 đồng/m³.
Đất sét, đất làm gạch, ngói được áp dụng mức thu 3.000 đồng/m³, trong khi đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình và các loại đất khác có mức thu 2.000 đồng/m³.
Đối với nhóm cát, cát vàng có mức thu 7.500 đồng/m³, cát trắng là 10.500 đồng/m³ – mức cao nhất trong nhóm vật liệu xây dựng thông thường – còn các loại cát khác là 6.000 đồng/m³. Sỏi, cuội và sạn có mức thu 9.000 đồng/m³.
Ngoài ra, một số khoáng sản khác cũng được quy định mức thu cụ thể như cao lanh 5.800 đồng/tấn; phen sờ phát 4.600 đồng/tấn; than khác 10.000 đồng/tấn; trong khi khoáng sản không kim loại khác và sét chịu lửa cùng áp dụng mức thu 30.000 đồng/tấn.
Đá block chịu mức phí cao nhất
Đối với nhóm khoáng sản có giá trị kinh tế cao, đá block gồm các khối đá hoa trắng, granite, gabro và bazan phục vụ sản xuất đá ốp lát, mỹ nghệ được áp dụng mức thu 90.000 đồng/m³, cao nhất trong biểu phí của nghị quyết.
Trong khi đó, đá granite, gabro và bazan làm ốp lát, mỹ nghệ (không bao gồm đá block) có mức thu 70.000 đồng/m³, phản ánh giá trị thương mại cao cũng như yêu cầu quản lý chặt chẽ đối với hoạt động khai thác các loại khoáng sản này.
Khai thác tận thu chỉ nộp 60% mức phí
Nghị quyết cũng quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tận thu khoáng sản bằng 60% mức thu của loại khoáng sản tương ứng.
Theo quy định, việc áp dụng mức thu thấp hơn đối với hoạt động khai thác tận thu nhằm phù hợp với đặc điểm của loại hình khai thác này, đồng thời vẫn bảo đảm nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân khai thác.
Thống nhất chính sách trên toàn TP.HCM sau sáp nhập
Một trong những nội dung đáng chú ý của nghị quyết là việc thống nhất mức thu phí bảo vệ môi trường trên toàn địa bàn TP.HCM sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.
Theo đó, kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực, các quy định trước đây gồm Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND của HĐND TP.HCM, Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Bình Dương và Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đều hết hiệu lực thi hành.
Việc hợp nhất chính sách giúp bảo đảm sự đồng bộ trong quản lý, tránh tình trạng áp dụng nhiều mức thu khác nhau giữa các địa bàn trước khi sáp nhập, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động khai thác khoáng sản trên phạm vi thành phố.
Bên cạnh đó, nghị quyết cũng bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài nguyên theo hướng minh bạch, thống nhất và bền vững.
Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Theo HĐND TP.HCM, việc quy định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản không chỉ góp phần tạo nguồn thu phục vụ công tác bảo vệ môi trường mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động khai thác khoáng sản.
Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường là một trong những công cụ kinh tế nhằm bù đắp một phần chi phí xử lý, khắc phục các tác động do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên không tái tạo.
Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành từ ngày 29/6/2026. UBND TP.HCM được giao tổ chức triển khai thực hiện; Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND thành phố có trách nhiệm giám sát việc thực hiện nhằm bảo đảm công tác thu phí đúng quy định, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố.
Buildata




