Trên cơ sở những kết quả và hạn chế của giai đoạn trước, năm 2026 sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng trọng điểm như giao thông, năng lượng, chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên biến động giá vật liệu xây dựng đang tạo ra một “cú sốc chi phí” đáng kể đối với đầu tư công năm 2026. Mức tăng chi phí 1,91–8,09% nghe có vẻ không quá lớn, nhưng với các dự án hạ tầng quy mô hàng nghìn tỷ đồng, đây là con số rất đáng kể.

Áp lực từ thị trường vật liệu xây dựng (VLXD) đang tác động mạnh đến đầu tư công, khi giá thép, xi măng, cát, đá tăng gần 30%, làm đội chi phí xây dựng từ 1,91 đến 8,09%.
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng và các hiệp hội ngành, chỉ riêng tháng 03/2026, nhiều nhóm vật liệu ghi nhận mức tăng đáng kể: xi măng tăng trên 7%, thép khoảng 2%, gạch lát gần 5%; trong khi các vật liệu rời như cát, đá, gạch xây tăng mạnh từ 13,5% đến 23,3%. Đáng chú ý, nhựa đường – vật liệu thiết yếu cho hạ tầng giao thông – tăng gần 32%, tạo áp lực đặc biệt lớn lên các dự án cao tốc, sân bay và hạ tầng quy mô lớn.
Áp lực từ thị trường vật liệu xây dựng (VLXD) đang tác động ngày càng rõ nét đến tiến độ và hiệu quả của đầu tư công. Trong bối cảnh giá thép, xi măng, cát, đá đồng loạt tăng mạnh - có thời điểm lên gần 30% - tổng chi phí xây dựng bị đẩy lên từ khoảng 1,91% đến 8,09%, tùy theo quy mô và tính chất dự án. Mức tăng chi phí 1,91–8,09% nghe có vẻ không quá lớn, nhưng với các dự án hạ tầng quy mô hàng nghìn tỷ đồng, đây là con số rất đáng kể. Nhiều dự án được lập dự toán từ giai đoạn trước, khi giá cát, đá, thép, nhựa đường còn thấp, nên nay bị “vênh” lớn giữa dự toán và thực tế.
Diễn biến giá VLXD tăng không chỉ làm tăng chi phí trực tiếp mà còn kéo theo hàng loạt hệ lụy. Trước hết, nhiều nhà thầu rơi vào thế bị động do hợp đồng đã ký theo đơn giá cố định hoặc điều chỉnh chậm so với thị trường, dẫn đến nguy cơ thua lỗ, thi công cầm chừng hoặc giãn tiến độ. Thứ hai, các chủ đầu tư buộc phải rà soát, điều chỉnh tổng mức đầu tư, kéo dài quy trình thẩm định, phê duyệt, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ giải ngân vốn. Thứ ba, áp lực tăng giá còn làm gia tăng rủi ro về chất lượng công trình khi một số đơn vị có xu hướng cắt giảm chi phí đầu vào để bù đắp.
Không dừng lại ở yếu tố chi phí, biến động giá VLXD còn gây ra sự thiếu ổn định trong công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công. Các chủ đầu tư và nhà thầu gặp khó khăn trong việc dự toán chính xác, dẫn đến tình trạng đội vốn hoặc phải xin điều chỉnh nhiều lần, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài càng làm tăng rủi ro biến động giá, tạo áp lực kép lên cả ngân sách nhà nước lẫn năng lực tài chính của doanh nghiệp xây dựng.
Rõ ràng áp lực từ thị trường VLXD đang nhanh chóng truyền dẫn vào đầu tư công. Hiện cả nước có khoảng 44 dự án trọng điểm với tổng mức đầu tư khoảng 569.000 tỷ đồng, trong đó giá trị chưa thi công còn khoảng 267.000 tỷ đồng. Với quy mô này, chỉ cần chi phí vật liệu tăng vài phần trăm cũng có thể làm phát sinh thêm hàng chục nghìn tỷ đồng chi phí, gây xáo trộn lớn tới tổng mức đầu tư, kế hoạch vốn và hiệu quả tài chính của dự án.
Trong khi đó, tiến độ giải ngân đầu tư công tiếp tục đối mặt với áp lực. Báo cáo tại Quốc hội cho thấy quý I/2026 mới giải ngân khoảng 10,4% kế hoạch, đồng thời còn 48,3 nghìn tỷ đồng chưa được phân bổ chi tiết tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Điều này cho thấy khả năng hấp thụ vốn vẫn là điểm nghẽn, trong đó yếu tố nguồn vật liệu ngày càng được nhận diện rõ hơn, không chỉ ở khía cạnh giá cả mà còn ở tính ổn định của nguồn cung và thủ tục khai thác.
Ở góc độ vĩ mô, sự leo thang của giá VLXD phản ánh sự mất cân đối cục bộ giữa cung – cầu, đặc biệt với các vật liệu như cát xây dựng, đá và nhựa đường. Nguồn cung hạn chế do vướng mắc trong cấp phép khai thác, chi phí logistics tăng và nhu cầu đột biến từ các dự án hạ tầng lớn đang khiến thị trường trở nên nhạy cảm hơn với các cú sốc giá. Nếu không có giải pháp điều tiết kịp thời, áp lực này có thể lan rộng, ảnh hưởng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư công.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là cần đồng bộ nhiều giải pháp: đẩy nhanh việc cấp phép và mở rộng nguồn cung vật liệu; cập nhật, công bố giá vật liệu sát với thị trường để làm cơ sở điều chỉnh hợp đồng; nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giá giữa Nhà nước và nhà thầu; đồng thời tăng cường kiểm soát đầu cơ, găm hàng. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy sử dụng vật liệu thay thế, vật liệu tái chế và tối ưu thiết kế kỹ thuật cũng là hướng đi cần được đẩy mạnh nhằm giảm phụ thuộc vào các nguồn cung truyền thống.
Nếu không sớm tháo gỡ, áp lực từ thị trường VLXD không chỉ làm chậm tiến độ giải ngân mà còn có nguy cơ làm giảm hiệu quả tổng thể của chính sách đầu tư công – một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Buildata




