Thời gian qua, nhiều cơ sở sản xuất gạch không nung (GKN) trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, từng bước tự động hóa các khâu sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và góp phần bảo vệ môi trường. Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất GKN không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu tất yếu đối với ngành công nghiệp vật liệu xây dựng trong quá trình chuyển đổi theo hướng xanh, tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững.
Tại Nhà máy Bê tông liên danh Việt Nhật thuộc Tổng Công ty Đầu tư Hà Thanh (phường Quảng Phú), công nghệ hiện đại đang được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, ổn định chất lượng sản phẩm. Nhà máy chuyên sản xuất các loại vật liệu xây dựng như gạch không nung (GKN), bê tông thương phẩm, cống thoát nước...; riêng sản phẩm GKN có công suất thiết kế 100 triệu viên/năm.

Để phục vụ sản xuất gạch, từ năm 2016, doanh nghiệp đã đầu tư 2 dây chuyền sản xuất gạch hiện đại cùng 2 xe nâng phục vụ vận chuyển, bốc xếp sản phẩm ra bãi tập kết. Việc đầu tư đồng bộ máy móc, thiết bị giúp quá trình sản xuất có mức độ cơ giới hóa cao, từ phối trộn nguyên liệu, cấp liệu, ép định hình đến hoàn thiện sản phẩm.
Theo đại diện doanh nghiệp, việc ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại giúp kiểm soát tương đối chính xác tỷ lệ nguyên liệu, lực ép và kích thước sản phẩm. Nhờ đó, năng suất lao động được nâng lên, giảm đáng kể các công đoạn thủ công, đồng thời hạn chế sai số, tiết kiệm nguyên liệu và duy trì sự ổn định về chất lượng sản phẩm.
Hiện 2 dây chuyền sản xuất gạch đặc, công suất khoảng 5 vạn viên/ngày và gạch 2 lỗ, công suất khoảng 2,5 vạn viên/ngày, chỉ sử dụng 16 lao động, gồm 2 lao động đứng máy, 2 lao động phụ trợ, 2 lao động vận hành xe nâng, số còn lại thực hiện đóng gói sản phẩm. Việc cơ giới hóa nhiều công đoạn không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực về nhân công mà còn cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Đáng chú ý, 2 dây chuyền sản xuất sử dụng công nghệ ép thủy lực kết hợp rung tần số cao, giúp hỗn hợp nguyên liệu được nén chặt, tạo ra những viên gạch có độ đặc chắc cao, khả năng chịu lực và độ bền tốt. Sản phẩm vì vậy đáp ứng yêu cầu của nhiều công trình xây dựng và được thị trường tin dùng. Hoạt động sản xuất ổn định cũng tạo việc làm, thu nhập cho người lao động với mức bình quân hơn 10 triệu đồng/người/tháng.
Không chỉ các doanh nghiệp có quy mô lớn chú trọng đổi mới công nghệ, các cơ sở sản xuất GKN trên địa bàn tỉnh cũng từng bước đầu tư thiết bị theo hướng đồng bộ, giảm lao động thủ công.
Tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hà Liên (xã Trung Chính), doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất GKN gồm máy ép chính, máy trộn nguyên liệu, hệ thống băng tải, máy xếp chồng và khuôn gạch đồng bộ. Dây chuyền được vận hành theo hướng bán tự động, giúp giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công, nâng cao độ chính xác và tính đồng đều của sản phẩm.
Quy trình sản xuất được tổ chức tương đối khép kín, từ trộn nguyên liệu, cấp liệu, ép định hình đến phơi và bảo dưỡng sản phẩm. Việc bố trí dây chuyền theo hướng liên hoàn giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn từng công đoạn, giảm thời gian vận chuyển nội bộ, hạn chế hao hụt nguyên liệu và nâng cao năng suất.
Bên cạnh yếu tố năng suất và chất lượng, điểm nổi bật của GKN là khả năng góp phần giảm khai thác đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch đất sét nung, đồng thời không phải sử dụng nhiên liệu để nung ở nhiệt độ cao như phương pháp truyền thống. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để GKN được xác định là vật liệu xây dựng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thân thiện hơn với môi trường.
Theo Phòng Kinh tế và Vật liệu xây dựng (Sở Xây dựng), Thanh Hóa hiện có 54 đơn vị tham gia sản xuất GKN, với tổng sản lượng khoảng 550 triệu viên/năm. Cùng với việc mở rộng năng lực sản xuất, nhận thức của các chủ đầu tư, doanh nghiệp xây dựng và người dân về sử dụng vật liệu xây không nung ngày càng được nâng lên.
Đặc biệt, tại các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, việc sử dụng GKN đạt 100%. Đối với các công trình sử dụng nguồn vốn khác và công trình dân sinh, GKN cũng ngày càng được quan tâm lựa chọn. Nhìn chung, tình hình sản xuất và sử dụng GKN trên địa bàn tỉnh hiện cơ bản đáp ứng yêu cầu theo Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung tại Việt Nam đến năm 2030.
BuilData




