Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến về các chính sách của Dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, đồng thời đề nghị đổi tên thành Luật Vật liệu Xây dựng nhằm phản ánh đầy đủ hơn phạm vi điều chỉnh. Đáng chú ý, cơ quan soạn thảo đề xuất 6 nhóm chính sách lớn, tập trung vào phát triển ngành vật liệu xây dựng theo hướng thị trường, xanh, tuần hoàn, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Theo Bộ Xây dựng, việc xây dựng Luật Vật liệu Xây dựng nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng và phát triển vật liệu xây dựng (VLXD); đồng thời khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn quản lý thời gian qua.

Ảnh minh họa: Internet
Các chính sách được đề xuất theo hướng tăng tính minh bạch, giảm can thiệp hành chính không cần thiết, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động về nguyên liệu, công nghệ và thị trường; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và thúc đẩy phát triển vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế.
1. Hoàn thiện công cụ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển VLXD
Nhóm chính sách thứ nhất tập trung hoàn thiện các công cụ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển VLXD. Dự án Luật dự kiến xác định rõ vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa ba công cụ này, tránh chồng chéo và hạn chế việc sử dụng các công cụ định hướng phát triển như một điều kiện hành chính đối với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Theo định hướng đề xuất, chiến lược và kế hoạch phát triển VLXDchủ yếu phục vụ công tác định hướng, dự báo và tổ chức thực hiện; không phải là điều kiện để chấp thuận đầu tư và không được sử dụng để ấn định công suất, sản lượng của doanh nghiệp.
Đối với một số ngành vật liệu nền tảng, cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu công cụ quy hoạch phù hợp theo Luật Quy hoạch, bảo đảm sự liên kết giữa vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, năng lượng, hạ tầng giao thông, logistics và thị trường. Việc này nhằm bảo đảm khả năng cân đối tổng thể về nguồn lực và hạ tầng, nhưng không khôi phục mô hình quy hoạch sản phẩm, hàng hóa như trước năm 2019, qua đó phù hợp hơn với cơ chế thị trường và yêu cầu cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh.
2. Đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu xanh, vật liệu mới
Nhóm chính sách thứ hai hướng tới hoàn thiện chính sách phát triển VLXD theo hướng đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, bảo đảm chất lượng sản phẩm và thúc đẩy các loại vật liệu mới, vật liệu xanh. Các nhóm vật liệu được định hướng khuyến khích phát triển gồm vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu nhẹ, vật liệu thông minh, vật liệu tiết kiệm tài nguyên - năng lượng, vật liệu sử dụng nguyên liệu thứ cấp và vật liệu có tính năng đặc thù.
Đáng chú ý, hoạt động nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm được định hướng kết nối với các chính sách hiện hành về đầu tư, thuế, tín dụng, đất đai, khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường. Cách tiếp cận này nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ và sản phẩm mới mà không làm phát sinh thêm một hệ thống chính sách ưu đãi riêng biệt. Theo đề xuất, Dự án Luật không thành lập quỹ mới, không tạo thủ tục xác nhận ưu đãi hoặc điều kiện đầu tư kinh doanh riêng.
3. Quản lý nguyên liệu theo cơ chế thị trường, bảo đảm an ninh nguồn cung
Nhóm chính sách thứ ba tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý chế biến, sử dụng nguyên liệu theo cơ chế thị trường; đồng thời bảo đảm an ninh nguồn cung và khả năng điều phối cung - cầu đối với VLXD thông thường. Pháp luật về địa chất và khoáng sản tiếp tục điều chỉnh các hoạt động điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác và thu hồi khoáng sản. Trong khi đó, Luật Vật liệu Xây dựng dự kiến tập trung vào khâu chế biến, lựa chọn, sử dụng và tổ chức thị trường nguyên liệu sau khi nguồn nguyên liệu được hình thành hợp pháp.
Doanh nghiệp được chủ động lựa chọn, mua bán, nhập khẩu và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu phù hợp với nhu cầu sản xuất. Cơ chế quản lý nhà nước sẽ chuyển mạnh sang theo dõi, dự báo và cung cấp thông tin thị trường thay vì phân bổ hành chính nguồn vật liệu. Theo đó, hệ thống dự báo có thể theo dõi nhu cầu của các dự án trọng điểm, nguồn cung hợp pháp, công suất khai thác, sản lượng, giá cả và khả năng vận chuyển. Đây được xem là cơ sở để cơ quan quản lý nhận diện nguy cơ thiếu hụt nguồn cung, hỗ trợ điều hành thị trường và bảo đảm nhu cầu VLXD cho các công trình quan trọng.
4. Hoàn thiện quy định về sử dụng VLXD trong công trình
Nhóm chính sách thứ tư hướng đến quản lý việc sử dụng VLXD trong công trình trên cơ sở yêu cầu về chất lượng, an toàn và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật. Vật liệu sử dụng trong công trình phải phù hợp với thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và các yêu cầu liên quan đến chất lượng, an toàn, độ bền, công năng và môi trường. Một điểm đáng chú ý là định hướng giảm việc kiểm tra, thử nghiệm trùng lặp. Các kết quả chứng nhận, thử nghiệm, kiểm định, công bố hợp quy và dữ liệu về chất lượng có thể được sử dụng lại khi vẫn còn phù hợp với điều kiện và mục đích sử dụng.
Việc kiểm tra bổ sung chỉ được thực hiện khi có căn cứ về rủi ro, thay đổi điều kiện sử dụng, xuất hiện yêu cầu kỹ thuật đặc thù hoặc có dấu hiệu vật liệu không đáp ứng yêu cầu. Chính sách cũng hướng tới tạo hành lang kỹ thuật cho việc sử dụng vật liệu mới, vật liệu tái chế và khuyến khích lựa chọn vật liệu dựa trên hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và chi phí vòng đời, thay vì chỉ dựa trên giá mua ban đầu.
5. Thúc đẩy tái chế chất thải, phát triển kinh tế tuần hoàn
Nhóm chính sách thứ năm tập trung vào thu hồi, tái chế chất thải làm nguyên liệu sản xuất VLXD và sử dụng trong công trình, qua đó thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng. Theo định hướng đề xuất, nhiều nguồn vật chất có khả năng tái sử dụng như đất, đá, bùn thải xây dựng, đất đá thải mỏ, quặng đuôi, tro, xỉ, thạch cao, xỉ luyện kim và các nguồn phù hợp khác có thể được tái chế hoặc sử dụng làm nguyên liệu, với điều kiện đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, an toàn và môi trường.
Việc mở rộng khả năng sử dụng các nguồn nguyên liệu thứ cấp không chỉ góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý mà còn giảm nhu cầu khai thác nguyên liệu tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên và chi phí sản xuất. Tuy nhiên, các thủ tục liên quan đến phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải vẫn tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành. Dự án Luật không đặt mục tiêu hình thành một quy trình quản lý chất thải song song, qua đó hạn chế chồng chéo giữa các hệ thống pháp luật.
6. Tăng cường quản lý nhà nước, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu VLXD
Nhóm chính sách thứ sáu tập trung hoàn thiện quản lý nhà nước, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về VLXD. Cơ sở dữ liệu dự kiến tích hợp các thông tin về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, tiêu chuẩn áp dụng, giá cả, cung - cầu, thị trường cũng như thông tin về vật liệu mới, vật liệu xanh và vật liệu tái chế. Hệ thống dữ liệu sẽ được định hướng kết nối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin liên quan đến xây dựng, địa chất và khoáng sản, môi trường, doanh nghiệp, đầu tư và hải quan.
Một nguyên tắc quan trọng được đặt ra là tổ chức, doanh nghiệp không phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có, đồng thời được khai thác dữ liệu trong phạm vi pháp luật cho phép. Bên cạnh việc số hóa dữ liệu, cơ quan soạn thảo đề xuất ứng dụng phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ dự báo cung - cầu, theo dõi biến động giá, truy xuất nguồn gốc và phục vụ công tác kiểm tra theo mức độ rủi ro. Qua đó, quản lý nhà nước về VLXD có thể từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa nhiều vào thủ tục sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro.
BuilData




