Việt Nam đã từng bước xây dựng hành lang pháp lý và hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy phát triển vật liệu xây không nung (VLXKN), từng bước thay thế gạch đất sét nung truyền thống, góp phần tiết kiệm tài nguyên đất, sử dụng hiệu quả phế thải công nghiệp, giảm tiêu hao nhiên liệu và hạn chế phát thải khí nhà kính.

VLXKN đã từng bước trở thành một bộ phận quan trọng của ngành vật liệu xây dựng.
Quá trình hình thành và phát triển vật liệu xây không nung
Gạch không nung đã xuất hiện trên thế giới từ thế kỷ XIX và ngày càng được phát triển cùng với sự ra đời của xi măng, công nghệ ép định hình và các tiêu chuẩn hóa trong sản xuất vật liệu xây dựng. Tại nhiều quốc gia, vật liệu xây không nung đã trở thành một trong những nhóm vật liệu chủ đạo nhờ ưu điểm về khả năng cơ giới hóa, kiểm soát chất lượng, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường.
Tại Việt Nam, sự phát triển của gạch không nung gắn liền với yêu cầu giải quyết những vấn đề môi trường và tài nguyên phát sinh từ hoạt động sản xuất gạch đất sét nung. Trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, gạch đất sét nung vẫn là vật liệu xây dựng phổ biến. Tuy nhiên, quá trình khai thác đất sét và nung ở nhiệt độ cao tiêu tốn nhiều tài nguyên, nhiên liệu, đồng thời phát sinh khí thải và ảnh hưởng đến môi trường.
Theo các tài liệu của Bộ Xây dựng, việc sản xuất gạch đất sét nung với quy mô lớn có thể tiêu thụ một lượng đáng kể đất sét, than và các nguồn nhiên liệu hóa thạch, đồng thời phát sinh lượng lớn CO₂. Việc khai thác đất sét lâu dài còn có nguy cơ làm mất đất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến cảnh quan và tài nguyên đất. Đây là một trong những cơ sở quan trọng thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi sang các loại vật liệu xây dựng thân thiện môi trường.
Từ giữa những năm 2000, Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các loại VLXKN, trong đó có gạch xi măng cốt liệu, gạch bê tông khí chưng áp (AAC), bê tông bọt, tấm tường và các sản phẩm sử dụng phế thải công nghiệp như tro bay, xỉ nhiệt điện, xỉ luyện kim và một số loại vật liệu tái chế khác.
Một dấu mốc quan trọng là Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020. Chính sách này tạo nền tảng để chuyển việc phát triển VLXKN từ các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm sang một chương trình phát triển ở quy mô quốc gia.
Tiếp đó, Nhà nước ban hành nhiều quy định liên quan đến sản xuất, sử dụng VLXKN trong công trình xây dựng, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, quản lý chất lượng sản phẩm, định mức kinh tế - kỹ thuật cũng như các chính sách khuyến khích đầu tư. Việc hình thành tương đối đồng bộ các cơ chế này đã tạo điều kiện cho thị trường VLXKN phát triển, đồng thời từng bước thay đổi thói quen sử dụng vật liệu truyền thống.
Các cơ chế, chính sách chủ yếu
1. Chính sách hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung
Một trong những định hướng quan trọng của Nhà nước là hạn chế dần việc sản xuất gạch đất sét nung, đặc biệt là các công nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu hao nhiều nhiên liệu và gây ô nhiễm môi trường. Chính sách này được triển khai thông qua việc kiểm soát quy hoạch, đầu tư cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất gạch và từng bước loại bỏ các lò gạch thủ công, lò vòng sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Đây là cơ chế có ý nghĩa quan trọng bởi sự phát triển của VLXKN không chỉ phụ thuộc vào việc khuyến khích sản phẩm mới mà còn cần tạo môi trường cạnh tranh phù hợp giữa VLXKN và vật liệu nung truyền thống.
2. Chính sách ưu tiên sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng
Nhà nước đã đưa ra các quy định về việc ưu tiên hoặc bắt buộc sử dụng VLXKN đối với một số loại công trình, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn nhà nước. Đối với các công trình xây dựng mới thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định, việc sử dụng VLXKN được xem xét theo loại công trình, khu vực và yêu cầu kỹ thuật. Cơ chế này tạo ra một thị trường tiêu thụ tương đối ổn định cho VLXKN, đồng thời tạo động lực để các doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc đưa VLXKN vào các công trình trường học, bệnh viện, trụ sở cơ quan, nhà ở và các công trình công cộng cũng góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa, giúp chủ đầu tư, tư vấn thiết kế và người sử dụng có thêm kinh nghiệm thực tế về loại vật liệu này.
3. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Một trong những yếu tố quyết định sự phát triển lâu dài của VLXKN là hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Các tiêu chuẩn liên quan đến gạch bê tông, gạch bê tông nhẹ, bê tông khí chưng áp, tấm tường và các sản phẩm VLXKN từng bước được xây dựng, cập nhật và hoàn thiện. Đây là cơ sở để kiểm soát các chỉ tiêu quan trọng như cường độ chịu nén, độ hút nước, khối lượng thể tích, kích thước, độ chính xác hình học, khả năng cách âm, cách nhiệt và độ bền của sản phẩm. Việc tiêu chuẩn hóa cũng giúp các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn có cơ sở lựa chọn vật liệu, thiết kế kết cấu và nghiệm thu công trình, qua đó giảm tâm lý e ngại khi thay thế gạch nung truyền thống.
4. Chính sách khuyến khích đầu tư và đổi mới công nghệ
Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất VLXKN, đặc biệt là các dây chuyền có mức độ tự động hóa cao, tiết kiệm năng lượng và có khả năng sử dụng phế thải công nghiệp làm nguyên liệu. Việc áp dụng công nghệ ép rung, ép thủy lực, dưỡng hộ bằng hơi nước, công nghệ bê tông khí chưng áp và các dây chuyền tự động hóa giúp nâng cao năng suất, ổn định chất lượng và giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, việc sử dụng tro bay, xỉ, mạt đá, phế thải xây dựng và các nguồn nguyên liệu thứ cấp trong sản xuất VLXKN góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế tuần hoàn, biến chất thải của ngành công nghiệp thành nguồn nguyên liệu cho ngành vật liệu xây dựng.
5. Chính sách tín dụng, thuế và hỗ trợ doanh nghiệp
Bên cạnh chính sách về sản phẩm và thị trường, các doanh nghiệp sản xuất VLXKN có thể tiếp cận các cơ chế ưu đãi đầu tư, tín dụng, thuế và hỗ trợ khoa học - công nghệ theo từng chương trình, dự án và lĩnh vực đầu tư. Việc ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, sử dụng phế thải làm nguyên liệu hoặc tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường giúp giảm một phần rào cản về vốn đầu tư ban đầu. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi dây chuyền sản xuất VLXKN có mức đầu tư tương đối lớn, trong khi doanh nghiệp cần thời gian để xây dựng thị trường và thu hồi vốn.
6. Gắn phát triển VLXKN với chương trình xây dựng xanh và giảm phát thải
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, phát triển VLXKN ngày càng được đặt trong tổng thể chiến lược tăng trưởng xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải trong lĩnh vực xây dựng. Các công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng và các hệ thống đánh giá công trình bền vững như LEED, LOTUS, EDGE tạo thêm động lực cho việc lựa chọn những vật liệu có khả năng giảm tác động môi trường trong vòng đời công trình. Vì vậy, VLXKN không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ "thay thế gạch nung", mà ngày càng được xem là một thành phần của hệ sinh thái vật liệu xây dựng xanh và kinh tế tuần hoàn.
Phấn đấu chiếm 40-45%
Theo Chương trình phát triển vật liệu xây không nung tại Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định số 2171/QĐ-TTg ban hành ngày 23/12/2021) và Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 (Quyết định số 1266/QĐ-TTg), Việt Nam đặt mục tiêu đẩy mạnh sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung (VLXKN) thay thế một phần gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 35 - 40% vào năm 2025 và 40 - 45% vào năm 2030
Giai đoạn 2026 – 2030 được xác định là bước chuyển mình quan trọng, đưa VLXKN từ giải pháp khuyến khích sang quá trình tái định vị vai trò bắt buộc trong hệ thống vật liệu xây dựng quốc gia theo Quyết định số 2171/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn này hướng tới việc áp dụng bắt buộc đối với vật liệu xây không nung tại các công trình xây dựng theo quy định phân vùng và loại đô thị. Trong đó, các công trình đầu tư công, khu đô thị, và đặc biệt là hai thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tiếp tục là những đơn vị tiên phong áp dụng nghiêm ngặt quy định này.
Tỷ lệ sử dụng vật liệu xây không nung trong công trình xây dựng giai đoạn đến năm 2030: Đối với các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công sử dụng 100% vật liệu xây không nung so với tổng lượng vật liệu xây. Các công trình xây dựng từ 9 tầng trở lên phải sử dụng tối thiểu 90% vật liệu xây không nung so với tổng lượng vật liệu xây.
Build.Data




