Theo Vụ Khoa học Công nghệ Môi trường và Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng), những năm gần đây, ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, chủng loại sản phẩm, trình độ công nghệ và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.

Định hướng phát triển vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu thân thiện môi trường đã bước đầu đi vào thực tiễn
Năng lực sản xuất đạt quy mô lớn
Báo cáo của Vụ Khoa học Công nghệ Môi trường và Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết: Năng lực sản xuất hằng năm của ngành vật liệu xây dựng hiện đạt quy mô lớn với khoảng 125 triệu tấn xi măng, 150 triệu m³ bê tông, 11,7 triệu tấn thép xây dựng, 6,1 triệu tấn tôn mạ, 2,5 triệu tấn ống thép hàn, 840 triệu m² gạch ốp lát, 350 triệu m² kính xây dựng, hơn 40 tỷ viên gạch xây quy tiêu chuẩn, 26 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, 26 triệu m² đá ốp lát, 25 triệu tấn bê tông nhựa asphalt và hàng trăm triệu m³ cát, đá xây dựng cùng nhiều sản phẩm khác như vật liệu composite, vật liệu lợp, vật liệu gỗ, vật liệu hoàn thiện. Trong đó, sản lượng xi măng và gạch gốm ốp lát của Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; xi măng đứng thứ ba và gạch gốm ốp lát đứng thứ năm về quy mô sản xuất.
Doanh thu toàn ngành sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm sắt thép xây dựng, ước khoảng 50 tỷ USD mỗi năm, tương ứng khoảng 11% - 12% GDP quốc gia và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Đây là những con số cho thấy vai trò rất lớn của ngành vật liệu xây dựng trong ổn định sản xuất, tạo việc làm, đóng góp ngân sách, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo đảm nguồn cung đầu vào cho nền kinh tế.
Về công nghệ, nhiều dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng đã được đầu tư theo hướng hiện đại hơn, tiệm cận công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới. Quá trình sản xuất từng bước được tối ưu hóa nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất lượng của nhiều chủng loại sản phẩm vật liệu xây dựng Việt Nam đã đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; mẫu mã, quy cách, tính năng sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước, từng bước thay thế hàng nhập khẩu và mở rộng xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Công tác nghiên cứu khoa học, tiêu chuẩn hóa và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực vật liệu xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật từng bước được rà soát, bổ sung, hài hòa hơn với thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao an toàn công trình và tạo điều kiện để sản phẩm vật liệu xây dựng của Việt Nam tiếp cận tốt hơn với thị trường khu vực và thế giới.
Đặc biệt, định hướng phát triển vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu thân thiện môi trường đã bước đầu đi vào thực tiễn. Các sản phẩm vật liệu xây không nung như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, tấm tường rỗng đùn ép, tấm tường bê tông khí chưng áp đã từng bước được đầu tư, sản xuất và sử dụng trong công trình xây dựng. Nhóm sản phẩm này góp phần giảm sử dụng đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, hạn chế phát thải và tạo thêm hướng sử dụng tro, xỉ, thạch cao, phế thải công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng.
Bên cạnh đó, một số sản phẩm vật liệu bao che và hoàn thiện công trình có tính năng tiết kiệm năng lượng đã được nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng tại Việt Nam, tiêu biểu là kính tiết kiệm năng lượng, kính Low-E, kính Solar Control; các loại vật liệu nhẹ, vật liệu cách âm, cách nhiệt, vật liệu tái chế; các sản phẩm từ tre, gỗ rừng trồng và các nguồn vật liệu có khả năng tái tạo. Việc phát triển các nhóm sản phẩm này phù hợp với yêu cầu công trình xanh, đô thị xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải trong lĩnh vực xây dựng.
Cùng với đó, việc tận dụng tro, xỉ, thạch cao, xỉ lò cao, phế thải công nghiệp làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, bê tông, vật liệu xây không nung và các sản phẩm vật liệu khác đã bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển ngành theo hướng kinh tế tuần hoàn. Đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực bãi chứa chất thải công nghiệp, mà còn góp phần tiết kiệm tài nguyên khoáng sản tự nhiên, giảm chi phí xử lý chất thải và nâng cao giá trị sử dụng của các nguồn vật liệu thứ cấp.
Những tồn tại và hạn chế cần được khắc phục trong giai đoạn tới
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành vật liệu xây dựng vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần được nhận diện đầy đủ để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
Thứ nhất, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực vật liệu xây dựng còn thiếu đồng bộ; nhiều quy định nằm rải rác ở các luật, nghị định, thông tư thuộc các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, địa chất và khoáng sản, bảo vệ môi trường, đầu tư, đất đai, chất lượng sản phẩm hàng hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, thương mại, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu - nhập khẩu. Điều này dẫn đến khó khăn trong phối hợp liên ngành, trong phân định trách nhiệm quản lý và trong tổ chức thực hiện ở địa phương.
Thứ hai, việc phát triển vật liệu xây dựng tại một số địa phương còn dàn trải, chưa gắn chặt với vùng nguyên liệu, hạ tầng logistics, nhu cầu thị trường và yêu cầu bảo vệ môi trường. Một số cơ sở sản xuất còn quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng, phát thải lớn; trong khi tỷ lệ vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế và vật liệu thân thiện môi trường trong tổng cơ cấu sử dụng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển bền vững.
Thứ ba, năng lực cạnh tranh của một bộ phận doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị nhập khẩu, chậm thích ứng với các yêu cầu mới về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu sản phẩm và chứng nhận xanh. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, sản phẩm vật liệu xây dựng sản xuất trong nước chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ hàng nhập khẩu; đồng thời xuất khẩu cũng gặp nhiều khó khăn hơn do yêu cầu kỹ thuật, môi trường và thương mại của các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe.
Thứ tư, ở một số thời điểm đã xảy ra tình trạng mất cân đối cục bộ, khan hiếm hoặc tăng giá bất thường đối với một số loại vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu san lấp phục vụ các dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Việc cập nhật, công khai thông tin về công suất, sản lượng, nguồn cung, nhu cầu, thị trường tiêu thụ và khả năng đáp ứng theo vùng còn chưa kịp thời. Cơ sở dữ liệu về vật liệu xây dựng chưa được tổ chức theo hướng dùng chung, tích hợp, liên thông, làm hạn chế khả năng dự báo, điều phối và phục vụ quản lý nhà nước hiện đại.
Thứ năm, công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm trong sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng ở một số nơi chưa thường xuyên, chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng cần được chuyển mạnh hơn sang mô hình quản lý dựa trên mức độ rủi ro, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức đánh giá sự phù hợp, cơ quan quản lý nhà nước.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế sâu rộng và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, ngành vật liệu xây dựng phải đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy phát triển và phương thức quản lý. Ngành cần chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, lao động và mở rộng công suất sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào công nghệ, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn, phát thải thấp và nâng cao giá trị gia tăng.
Nguồn: Trích Báo cáo nghiên cứu của Vụ Khoa học Công nghệ Môi trường và Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng)
Build.Data




