Nghiên cứu đã chỉ ra kịch bản giảm phát thải của ngành thép trên cơ sở tính toán được lượng phát thải khí nhà kính (KNK) với các hệ số phát thải đặc trưng, làm cơ sở xây dựng kịch bản cơ sở và kịch bản giảm phát thải lĩnh vực sản xuất thép giai đoạn 2015 - 2030. Kết quả cho thấy, kịch bản cơ sở, phát thải tăng nhanh đáng kể từ năm 2015 khoảng hơn 5 triệu tấn CO2tđ đến hơn 64 triệu tấn CO2tđ vào năm 2030.
Theo kết quả kiểm kê phát thải KNK trong Báo cáo cập nhật ba năm một lần lần thứ 3 của Việt Nam (BUR3, 2020) cho lĩnh vực các quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm công nghiệp (IPPU), phát thải KNK từ lĩnh vực sản xuất sắt thép của Việt Nam là 3.858,22 nghìn tấn CO2tđ (chiếm 8,4%, đứng thứ hai sau phát thải của lĩnh vực xi măng là 79,8% trong IPPU). Như vậy có thể nói, phát thải từ lĩnh vực sản xuất sắt thép được xem là lớn trong lĩnh vực IPPU.

Nghiên cứu đã chỉ ra được hiện trạng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực thép với các hệ số phát thải đặc trưng, làm cơ sở tính toán và xây dựng kịch bản giảm phát thải
Hơn nữa đây là ngành quan trọng trong ngành công nghiệp liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, đồ dùng và thiết bị gia dụng. Do đó sản lượng của ngành thép không ngừng gia tăng, đạt 17,5 triệu tấn vào năm 2019 (Hiệp hội thép Việt Nam, 2019).
Tại Hội nghị COP26, Việt Nam tuyên bố “Sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ bằng nguồn lực của chính mình, cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, cả về tài chính và chuyển giao công nghệ, trong đó có thực hiện các cơ chế theo Thỏa thuận Paris, để đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050”.
Việt Nam đã đệ trình NDC cập nhật lần thứ 2 tới UNFCCC. Trong đó, mục tiêu giảm phát thải trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất, chất thải và các quá trình công nghiệp đến năm 2030 so với BAU trong NDC 2022 tăng cao so với NDC 2020, cụ thể đóng góp không điều kiện đã tăng từ 9% lên 15,8% và đóng góp có điều kiện tăng từ 27% lên 43,5% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022).
Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của ngành thép trong sự phát triển của nền kinh tế và trong mục tiêu giảm phát thải KNK hướng phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050 theo cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP 26; tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, bằng việc áp dụng các loại hình công nghệ chính BOF và EAF, ngành thép đang ngày càng tiềm ẩn nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường, phát thải lượng KNK lớn vào khí quyển gây nên tình trạng biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu đã chỉ ra được hiện trạng phát thải KNK trong lĩnh vực thép với các hệ số phát thải đặc trưng, làm cơ sở tính toán và xây dựng kịch bản giảm phát thải. Kết quả cho thấy, kịch bản cơ sở, phát thải KNK tăng nhanh đáng kể từ năm 2015 với khoảng hơn 5 triệu tấn CO2tđ và tăng lên hơn 64 triệu tấn CO2tđ vào năm 2030. Trong đó, phát thải từ công nghệ BF - BOF chiếm tỷ trọng chính.
Sau khi áp dụng các giải pháp công nghệ bao gồm các nhóm giải pháp: i) Nhóm giải pháp về tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu trong quá trình lò điện hồ quang EAF; (ii) Nhóm giải pháp về tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu trong quá trình luyện cốc; (iii) Nhóm giải pháp về tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu lượng phát thải KNK đã giảm được là hơn 18 triệu tCO2tđ vào năm 2030 so với kịch bản cơ sở.
Xem chi tiết Bài nghiên cứu TẠI ĐÂY:
Build.Data




