Thanh tra TP. Huế vừa ban hành Kết luận thanh tra đối với Dự án Nhà máy xi măng Nam Đông, chính thức kiến nghị chấm dứt hoạt động dự án trị giá hơn 4.400 tỷ đồng này. Trước đó, từ năm 2021, Kết luận thanh tra số 355/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ đã liệt Nhà máy xi măng Nam Đông vào danh sách 29 dự án cần rà soát để chấm dứt hoạt động.
Từng được kỳ vọng là động lực phát triển kinh tế - xã hội địa phương với tổng mức đầu tư điều chỉnh 4.437,8 tỷ đồng, Dự án Nhà máy xi măng Nam Đông (xã Long Quảng, TP. Huế) do Công ty CP Đầu tư xi măng Nam Đông Việt Song Long làm chủ đầu tư đã nhanh chóng rơi vào bế tắc. Theo cam kết ban đầu, dự án đi vào hoạt động từ tháng 1/2011. Thế nhưng, sau khi tiếp quản khoảng 40ha đất, hoàn thành một số công đoạn giải phóng mặt bằng, rà phá bom mìn và dựng lên khoảng 80% khung nhà hành chính, chủ đầu tư đã ngưng thi công hoàn toàn từ cuối năm 2010.

Hơn 15 năm qua, dự án bỏ hoang, gây lãng phí lớn nguồn tài nguyên đất đai. Đáng nói, kết luận của Thanh tra thành phố cho thấy sự dở dang này không chỉ xuất phát từ khó khăn tài chính của doanh nghiệp, mà còn bắt nguồn từ những thiếu sót ngay từ khâu thẩm định và giao đất của cơ quan quản lý.
Cơ quan thanh tra đã chỉ rõ hàng loạt bất cập trong hồ sơ pháp lý của dự án. Ngay từ bước đầu, Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính) đã không tham mưu công bố danh mục dự án thu hút đầu tư theo đúng quy định. Thậm chí, hồ sơ thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu hoàn toàn thiếu Báo cáo tài chính năm 2006 - tài liệu cốt lõi để chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư. Lý do được Sở Tài chính đưa ra cho vấn đề này là “sơ suất trong công tác lưu trữ” - một giải trình cho thấy sự lỏng lẻo trong quy trình quản lý hồ sơ của một dự án có tổng mức đầu tư hàng nghìn tỷ đồng.
Chưa dừng lại ở đó, trong lĩnh vực đất đai, thủ tục giao đất thiếu biên bản bàn giao thực địa. Diện tích hơn 3,2ha làm băng tải và trạm đập dù đã cho thuê nhưng doanh nghiệp chưa kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngay cả nghĩa vụ tài chính về đất, doanh nghiệp cũng chưa nộp tiền thuê đất suốt nhiều năm qua.
Thậm chí, con số chi phí đầu tư dở dang cũng ghi nhận sự bất nhất: Cục Thuế từng rà soát ghi nhận hơn 816,7 tỷ đồng, trong khi báo cáo của UBND tỉnh (cũ) gửi Thủ tướng năm 2019 lại chỉ xác định 163,5 tỷ đồng. Sự chênh lệch tới gần 5 lần cho thấy sự thiếu nhất quán trong việc quản lý, giám sát dòng vốn thực tế của dự án và đặt ra yêu cầu phải làm rõ giá trị tài sản thực tế đã hình thành trên đất.
Trước đó, từ năm 2021, Kết luận thanh tra số 355/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ đã liệt Nhà máy xi măng Nam Đông vào danh sách 29 dự án cần rà soát để chấm dứt hoạt động. Báo cáo của Thanh tra Chính phủ khi đó chỉ rõ: Dự án tự ý xây dựng khi chưa được phép, năng lực tài chính không bảo đảm, không thuộc diện bảo lãnh vay vốn và đã quá thời hạn đầu tư. Thế nhưng, phải mất thêm hơn 5 năm - đến tận kết luận thanh tra giữa năm 2026 của TP. Huế thì việc kiến nghị chấm dứt dự án mới một lần nữa được đặt lên bàn nghị sự chính thức.
Sự chần chừ trong việc xử lý một dự án không còn khả năng triển khai không chỉ lãng phí cơ hội sử dụng đất đai, mà còn tạo ra tâm lý trông chờ, dây dưa cho nhà đầu tư. Trong khi đó, về mặt thị trường, quy hoạch ngành xi măng toàn quốc lẫn địa phương đã dư thừa nguồn cung, việc tiếp tục níu giữ dự án là thiếu thực tế.
Kết luận số 1528/KL-TTr của Thanh tra TP. Huế với kiến nghị chấm dứt hoạt động dự án theo Luật Đầu tư năm 2025 là quyết định cần thiết. Tuy nhiên, để xử lý dứt điểm hậu quả tại Nam Đông, việc chấm dứt dự án trên giấy là chưa đủ.
Điều quan trọng hơn là phải xác định rõ “điểm dừng” đối với toàn bộ phần đất đai, tài sản và nghĩa vụ tài chính liên quan. Sau khi dự án bị chấm dứt, cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát hiện trạng khu đất, xác định đầy đủ tài sản đã hình thành, làm rõ nguồn vốn đã đầu tư, nghĩa vụ tài chính còn tồn đọng và trách nhiệm của các bên liên quan. Việc xử lý phải bảo đảm không để tiếp tục phát sinh thêm các khoản nợ, nghĩa vụ hoặc chi phí mà ngân sách nhà nước có thể phải gánh chịu.
Đặc biệt, với quỹ đất đã được giao, cho thuê nhưng nhiều năm không đưa vào sử dụng, câu hỏi đặt ra là bao giờ Nhà nước có thể thu hồi và đưa nguồn lực này trở lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Một dự án “treo” hơn 15 năm không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp không đủ năng lực triển khai, mà còn là phép thử đối với hiệu quả quản lý tài nguyên và chất lượng thực thi pháp luật về đầu tư, đất đai.
Nếu sau khi rà soát, cơ quan chức năng xác định nhà đầu tư không còn khả năng hoặc không có cơ sở để tiếp tục thực hiện dự án, việc chấm dứt cần được thực hiện với tinh thần dứt khoát, đúng quy định và có thời hạn cụ thể. Không nên để một dự án đã được cảnh báo từ nhiều năm trước tiếp tục tồn tại chỉ vì các thủ tục xử lý kéo dài.
Bài học từ Nhà máy xi măng Nam Đông vì thế không chỉ nằm ở con số hơn 4.400 tỷ đồng vốn đăng ký hay hàng chục hecta đất bị bỏ hoang. Điều đáng quan tâm hơn là cơ chế sàng lọc năng lực nhà đầu tư, giám sát tiến độ dự án và xử lý dự án chậm triển khai phải đủ hiệu quả để những trường hợp tương tự không tiếp tục kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ quản lý.
Chấm dứt một dự án thất bại sau hơn 15 năm là cần thiết, nhưng mục tiêu cuối cùng không nên chỉ là “đóng” một hồ sơ đầu tư. Điều cần thiết là khép lại toàn bộ vòng đời của dự án một cách minh bạch: xác định trách nhiệm, thu hồi nguồn lực bị bỏ hoang, xử lý tài sản và nghĩa vụ tài chính, đồng thời đưa quỹ đất trở lại trạng thái có thể khai thác hiệu quả.
BuilData




