Phụ gia polymer - với khả năng tạo thành màng liên kết bền vững - được xem là một trong những giải pháp giúp cải thiện khả năng chống thấm cho vữa khi đóng rắn. Bài viết này trình bày nghiên cứu xác định hàm lượng phụ gia tối ưu, ảnh hưởng của phụ gia đến các tính chất cơ lý của vữa và so sánh hiệu quả chống thấm của vữa bổ sung phụ gia với vữa truyền thống.
Sản phẩm vữa xây tô trộn sẵn được ứng dụng rộng rãi thay thế vữa xây truyền thống với mục tiêu chuẩn hoá, đảm bảo ổn định chất lượng xây tô, kéo dài tuổi thọ công trình. Một trong những vấn đề nan giải trong các công trình xây dựng là hiện tượng thấm dột, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ và chất lượng công trình.

Ảnh chụp kính hiển vi điện tử quét (SEM) có độ phóng đại x5.000 và x10.000 của hình a), b) Mẫu đối chứng MN-0;c), d) Mẫu sử dụng 1,5% RDP_M;
Sản phẩm vữa xây tô trộn sẵn được ứng dụng rộng rãi thay thế vữa xây truyền thống với mục tiêu chuẩn hoá, đảm bảo ổn định chất lượng xây tô, kéo dài tuổi thọ công trình. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng của loại vữa này, việc tìm kiếm các giải pháp cải thiện tính chống thấm và các tính chất cơ lý khác là vô cùng cần thiết.
Phụ gia polymer - với khả năng tạo thành màng liên kết bền vững - được xem là một trong những giải pháp giúp cải thiện khả năng chống thấm cho vữa khi đóng rắn. Bài viết này trình bày nghiên cứu xác định hàm lượng phụ gia tối ưu, ảnh hưởng của phụ gia đến các tính chất cơ lý của vữa và so sánh hiệu quả chống thấm của vữa bổ sung phụ gia với vữa truyền thống. Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để ứng dụng rộng rãi phụ gia polime trong sản xuất vữa xây tô, góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng.
Vữa xây tô trộn sẵn là loại vật liệu xây dựng được sản xuất sẵn từ nhà máy, bao gồm các thành phần như xi măng, cát, và các phụ gia khoáng khác. Sản phẩm này được kiểm soát chất lượng tại nhà máy, đóng gói sẵn và sử dụng ngay khi thêm nước thay vì tự phối trộn của người thợ tại công trường. Các kết quả thực nghiệm khảo sát cấp phối vữa xây tô trộn sẵn với thành phần phụ gia polymer được đồng trùng hợp từ ethylene, vinyl laurate, vinyl chloride (RDP_M) và gốc silicone (RDP_N) cho phép rút ra một số kết luận như sau.
Cấp phối sử dụng càng nhiều phụ gia polime thì khối lượng thể tích vữa tươi càng giảm, đồng thời cũng gây ra ảnh hướng đến quá trình đóng rắn của vữa. Cụ thể, làm tăng thời gian ninh kết, giảm cường độ chịu nén, nhưng giúp tăng độ bám dính. Kết quả đo độ hút nước đều cho thấy phụ gia giúp cải thiện khả năng chống thấm nước, độ hút nước giảm từ 60,01% xuống 27,44% so với mẫu đối chứng (phụ gia RDP_M) và từ 30,18% xuống 19,20% so với mẫu đối chứng (phụ gia RDP_N).
Nguyên nhân có thể dễ dàng nhận thấy thông qua sự thay đổi giá trị góc thấm ướt. Màng polymer hình thành trên bề mặt mẫu vữa đóng rắn do quá trình bay hơi nước biểu hiện tính kị nước, ngăn quá trình thẩm thấu nước vào đá xi măng. Kết quả phân tích vi cấu trúc khẳng định sự thay đổi trong cấu trúc tế vi khi các polime phân tán đồng đều trong cấu trúc vật liệu, tích tụ giữa bề mặt gel C-S-H và hạt xi măng chưa thủy hóa và tro bay. Sự tương tác này theo lí thuyết giúp lí giải những ảnh hưởng đến tính chất vữa tươi và vữa đóng rắn khi sử dụng phụ gia. Trong hai loại phụ gia thử nghiệm, phụ gia gốc silicone (RDP_N) cho thấy nhiều ưu điểm khi sử dụng với hàm lượng 0,5-2%.
Bài nghiên cứu “Nghiên cứu ảnh hưởng thành phần phụ gia polymer tái phân tán đến tính chất vữa khô” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Diễm Thùy, Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh, Nguyễn Khánh Sơn - Bộ môn Công nghệ Vật liệu Silicat, Khoa Công nghệ Vật liệu, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM.
Buildata xin giới thiệu Bài nghiên cứu TẠI ĐÂY:
Buildata




