
Những điều cũ trở thành mới
Đá vôi là thành phần chính để sản xuất xi măng.
Sự nung luyện đá vôi sẽ giải phóng ra can-xi cần thiết để tạo nên
can-xi silicat tại tâm của xi măng Pooclăng. Một lượng 5-15% đá vôi
trong PLC chưa nung và được nghiền mịn. Một phần đá vôi chuẩn bị đưa vào
lò sẽ được lấy đi và được đưa vào máy nghiền. Điều này có nghĩa là
không dùng nhiên liệu để nung số đá vôi đã bị lấy đi đó, không có phát thải khí CO2 do nung luyện, và do vì nguyên liệu ban đầu tính cho 1 tấn xi măng là ít, có nghĩa là nhiên liệu dùng để đốt lò sẽ ít.
Mức đá vôi cao hơn đã được sử dụng trong xi măng dùng cho xây trát đã
được sử dụng kể từ thập niên 1920, trong khi xi măng Pooclăng đá vôi với
lượng đá vôi lên đến 20% mãi về sau đến năm 1965 được sử dụng trong một
số ngành đặc biệt ở Đức. Năm 1979 Pháp đã thay các tiêu chuẩn của họ để
cho phép sử dụng bổ sung đá vôi. Vào năm 1990 Đức đã thường xuyên sử
dụng các loại xi măng hỗn hợp
phụ gia đá vôi với hàm lượng từ 10 đến 20% và vào năm 1922 tiêu chuẩn
của Anh cho phép phụ gia đá vôi lên đến 20%. Các nước của các châu lục
đã đưa xi măng chứa trên 5% đá vôi vào tiêu chuẩn của họ. Khi Liên minh
châu Âu đưa ra tiêu chuẩn ENV 197-1 vào năm 1992 (tiêu chuẩn EV 197-1
được chấp thuận vào năm 2000), các quy định cho các cấp xi măng PLC khác
nhau được đưa ra thành hai giải: CEM II/A-L (hoặc -LL) với 6-20% đá vôi
và CEM II/B-L (hoặc -LL) với 21-35% đá vôi. Ngoài ra, 5% các thành phần
phụ gia thứ yếu (Minor Additional Components - MAC) được cho phép trong
toàn bộ 27 loại xi măng thông dụng. Và MAC thông dụng nhất? là đá vôi.
Năm 2004, các chủng loại xi măng PLC chiếm trên 30% thị trường xi măng
châu Âu mà không có chủng loại xi măng hỗn hợp Pooclăng CEM II (mà loại
này cũng có thể chứa đá vôi). Năm 2004 các quốc gia châu Âu đã sản xuất
hơn 200 triệu tấn xi măng. Lượng xi măng này cho thấy lượng bê tông là
rất lớn.
Bảng dưới đây sẽ cho thấy những lợi ích về môi trường khi sử dụng xi măng Pooclăng đá vôi với lượng phụ gia đá vôi là 10% và 15%.

Theo kinh nghiệm của châu Âu và Canada, xi măng chứa 15% đá vôi có tính
năng tương đương với xi măng Pooclăng. Cường độ kháng nén có thể tăng
đến 10% với 3-5% đá vôi. Khi hàm lượng đá vôi tăng, cường độ vẫn cao hơn
ranh giới, nhưng giảm khi đạt 12-15% đá vôi. Điều đó có thể là do sự
bao bọc của các hạt. Mô hình nhiệt động học đưa ra giả thiết là độ rỗng
giảm khi tăng lượng đá vôi lên đến 10-12%. Chúng ta biết rằng vữa và bê
tông đặc sít hơn sẽ bền hơn, do đó khi giảm độ rỗng - cùng với các ảnh
hưởng nhỏ khác sẽ nhanh chóng tạo ra tác động thực sự nhưng nhỏ đến các
tính chất khác như độ bền. Mỹ đã đưa ra các giới hạn trong tiêu chuẩn
của mình với ý tưởng là xi măng PLC từ 5 đến 15% đá vôi sẽ đạt được tính
năng tương đương với xi măng không chứa đá vôi. Như vậy có nghĩa là sẽ
giảm thiểu sự cần thiết phải thay đổi thiết kế hỗn hợp bê tông.
Lợi ích của đá vôi trong sản xuất xi măng Pooclăng

Đá vôi dễ nghiền hơn so với clinker, do đó nó sẽ được nghiền mịn hơn so
với clinker. Các hạt đá vôi mịn này sẽ điền đầy vào giữa các khe hở của
các hạt xi măng có kích thước lớn hơn. Điều đó dẫn đến sự bao bọc của
các hạt hiệu quả hơn, và sự bao bọc này sẽ làm giảm số lượng nước không
cần thiết để thủy hóa. Do các hạt đá vôi có diện tích bề mặt lớn hơn,
chúng có thể cung cấp bề mặt lớn hơn cho muối silicat tạo thành và lớn
lên, nghĩa là các phản ứng sẽ hoàn toàn hơn đối với các pha xi măng. Kết
quả là một phần rất nhỏ đá vôi sẽ phản ứng hóa học và do đó làm giảm độ
rỗng.
Kết thúc bài viết tác giả bài viết đưa ra một vài nhận định: Xi măng
Pooclăng đá vôi là cách để tăng sản lượng xi măng, đồng thời giảm phát
thải; Thực hiện điều này mà không cần đầu tư lớn cho thiết bị mới; Cường
độ nén của bê tông cao hơn và độ xốp của bê tông thấp hơn; tức là bê
tông bền hơn... và khuyến nghị các nhà sản xuất nên kiểm chứng trong
thực tế để có kết quả chính xác nhất.



